vanban.org

Bản án 133/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Châu Đốc, tỉnh An Giang Tuyên án 20/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tịch thu tiêu 01 bộ bài Tây 52 lá;

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 930.000 (chín trăm ba mươi nghìn) đồng. Giao trả lại cho bị cáo số tiền 17.909.000 (mười bảy triệu chín trăm lẻ chín nghìn) đồng nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/11/2021 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Cô… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu Th (Đỏ) phạm tội: “Đánh bạc”. - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tịch thu tiêu 01 bộ bài Tây 52 lá;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ X

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 133/2021/HS-ST
Ngày: 20 - 12 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ X, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Đại Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Nguyễn Thanh Trang.

2. Nguyễn Văn Bằng.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Công Trí – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố X, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố X, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lương Văn Khang - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 12 năm 2021, tại Tòa án nhân dân thành phố X xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 133/2021/HSST ngày 17 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 137/2021/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Hữu Th (Đỏ), sinh năm 1993; nơi sinh: quận N, thành phố CT; nghề nghiệp: mua bán; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: số 29A phường X, quận N, thành phố CT; nơi tạm trú: tổ 04xx, phường Ns, thành phố X, tỉnh An Giang; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1963 và bà Lê Thị Kim P, sinh năm 1965; anh chị em ruột có 03 người, bị cáo là người cuối cùng.

Tiền án: không;

Tiền sự: Ngày 13/10/2020, Công an thành phố X, tỉnh An Giang quyết định xử phạt vi phạm hành chính, số tiền 1.500.000 đồng, về hành vi “Đánh bạc trái phép”, đã nộp phạt.

Bị cáo tại ngoại, áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng:

- Ông Trần Ngọc Hp, sinh năm 1956, vắng mặt;

- Ông La Vt, sinh năm 1950, vắng mặt;

- Ông Phan Văn Zu, sinh năm 1965, vắng mặt;

- Bà Giang Thị Lệ Mi, sinh năm 1975, vắng mặt;

- Ông Nguyễn Văn Sh, sinh năm 1997, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 15 giờ ngày 08/04/2021, lực lượng phối hợp Công an thành phố X và Công an phường Ns, thành phố X, kiểm tra quán nước của bà Giang Thị Lệ Mi thuộc tổ 17, khóm V, phường Ns, thành phố X, phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Hữu Th, Trần Ngọc Hp, La Vt, Phan Văn Zu đang có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức đánh bài binh xập xám ăn thua bằng tiền; thu giữ 01 bộ bài tây 52 lá; tiền Việt Nam trên chiếu bạc tại vị trí ngồi của Th 150.000 đồng, Hp 300.000 đồng, Việt 180.000 đồng, Zu 300.000 đồng, tổng số tiền 930.000 đồng; Th còn giao nộp số tiền 17.909.000 đồng cất giấu riêng trong người. Vật chứng thu giữ: 01 bộ bài tây 52 lá và số tiền 18.839.000 đồng. Ngày 19/5/2021,Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố X ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can Nguyễn Hữu Th. Tại Cáo trạng số 131/CT-VKSCĐ ngày 16/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố X truy tố bị cáo Nguyễn Hữu Th về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa,

- Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố, không có ý kiến tranh luận và trong lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

- Trong phát biểu luận tội, Kiểm sát viên trình bày: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người làm chứng, liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Kết quả trích lục tiền án, tiền sự của bị cáo thể hiện: Ngày 13/10/2020, Nguyễn Hữu Th bị Công an thành phố X quyết định xử phạt vi phạm hành chính, số tiền 1.500.000 đồng, hành vi “Đánh bạc trái phép”; đã nộp phạt, chưa hết thời hiệu, tiếp tục có hành vi đánh bạc, bị bắt quả tang, thu giữ 930.000 đồng. Vì vậy, Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Hữu Th về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thuộc thành phần nhân dân lao động, hiểu biết pháp luật có phần hạn chế; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; ngườ i pha ̣m tô ̣i thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Nhận thấy bị cáo có nhiều tính tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS; tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội không lớn, số tiền đánh bạc 930.000 đồng, dưới định lượng xử lý hình sự; trong thời gian tại ngoại để điều tra chờ xử lý, bị cáo không tái phạm hay có hành vi vi phạm pháp luật khác. Vì vậy, không cần thiết cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà áp dụng loại hình phạt khác đối với bị cáo vẫn đảm bảo tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Th mức án từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng các Điều 46, 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS, đề nghị: Tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước: Số tiền 930.000 đồng; Tịch thu, tiêu hủy 01 bộ bài tây 52 lá. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Hữu Th, số tiền 17.909.000 đồng, tuy nhiên cần tiếp tục tạm giữ số tiền này để bảo đảm nghĩa vụ thi hành án.

Trường hợp: Hành vi đánh bạc trái phép của bị cáo trước ngày 08/4/2021, ngoài lời khai của bị cáo không chứng cứ, căn cứ khác chứng minh, để quy kết trách nhiệm.

Đối với: Trần Ngọc Hp, La Vt, Phan Văn Zu có hành vi đánh bạc trái phép, số tiền dưới 5.000.000 đồng, không đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm, Cơ quan điều tra chuyển xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp. Bà Giang Thị Lệ Mi, không biết bị cáo và ông Hp, Việt, Zu đánh bạc trái phép được thua bằng tiền tại quán nước của bà Mi, tuy không xử lý nhưng cần giáo dục công khai tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an nhân dân thành phố X; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố X; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng không có ý kiến khiếu nại nên về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật. [2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Người làm chứng bà Giang Thị Lệ Mi có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, ông Trần Ngọc Hp, La Vt, Phan Văn Zu và Nguyễn Văn Sh đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt.Tuy nhiên, những người này đã có lời khai thể hiện trong hồ sơ vụ án nên việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự. Về nội dung: [3] Về hành vi phạm tội: Bị cáo khai nhận, khoảng 14 giờ ngày 08/4/2021, bị cáo cùng Hp, Việt, Zu gặp nhau tại quán nước bà Mi, rủ nhau chơi đánh bài binh xập xám ăn thua bằng tiền, cách chơi ăn thua theo ván, từng tụ sẽ so bài với 03 tụ còn lại rồi xoay vòng, người nào có bài lớn sẽ thắng người có bài nhỏ hơn mỗi ván 10.000 đồng. Đến khoảng 14 giờ 30 phút, chơi được 12 ván, Th ăn được tổng cộng 30.000 đồng thì bị lực lượng công an phát hiện, bắt quả tang. Bên cạch đó, ngày 13/10/2020, Nguyễn Hữu Th bị Công an thành phố X quyết định xử phạt vi phạm hành chính, số tiền 1.500.000 đồng,

hành vi “Đánh bạc trái phép”; đã nộp phạt, chưa hết thời hiệu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 08/4/2021 do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an phường Ns, thành phố X lập cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ đó đã có đủ căn cứ xác định bị cáo tham gia đánh bạc dưới hình thức bài binh xập xám, được thua bằng tiền, tổng số tiền thu trên chiếu bạc là 930.000 đồng. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Ngày 13/10/2020, bị cáo đã bị Công an thành phố X ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép, đã nộp phạt nhưng chưa hết thời hiệu, lại tiếp tục vi phạm nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố X và lời buộc tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật. [4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được đúng, sai, lẽ ra phải biết tôn trọng, chấp hành quy tắc xử sự chung và chấp hành pháp luật nhưng do hám lợi và coi thường pháp luật nên đã tham gia sát pha ̣t nhau, hơn thua được bằng tiền, trực tiếp xâm pha ̣m trật tự công cộng, nếp sống văn minh, gây tác động xấu đến trật tự trị an và an toàn xã hội ta ̣i địa phương. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội mà còn gây dư luận xấu trong nhân dân nên cần có mức hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thuộc thành phân nhân dân lao động, hiểu biết pháp luật có phần hạn chế. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Ngoài ra, khi được tại ngoại để chờ điều tra, xử lý, bị cáo đã chấp hành tốt chính sách pháp luật và các quy định tại địa phương, không có biểu hiện vi phạm pháp luật mới, có khả năng tự cải tạo và không gây ảnh hưởng xấu đến công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Do đó, xét không cần thiết cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mà áp dụng hình phạt tiền cũng đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng chung.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động phổ thông, thu nhập không ổn định nên xét không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 bộ bài Tây 52 lá dùng đánh bạc là công cụ, phương tiện phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với số tiền 930.000 đồng thu giữ tại chiếu bạc dùng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

- Đối với số tiền 17.909.000 đồng, xét đây là tài sản thuộc sở hữu của bị cáo, không liên quan đến tội phạm nên giao trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Về vấn đề khác:

- Đối với hành vi đánh bạc của bị cáo trước ngày 08/4/2021, ngoài lời khai của bị cáo, không có căn cứ khác để chứng minh nên cơ quan Điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi này của bị cáo là phù hợp quy định pháp luật.

- Đối với Trần Ngọc Hp, La Vt, Phan Văn Zu có hành vi đánh bạc trái phép, số tiền dưới 5.000.000 đồng, Công an thành phố X đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định pháp luật.

- Đối với bà Giang Thị Lệ Mi không biết bị cáo cùng với những đối tượng khác tham gia đánh bạc, được thua bằng tiền nên không truy cứu trách nhiệm hình sự là đúng quy định pháp luật nhưng cần công khai giáo dục tại phiên tòa về nâng cao ý thức chấp hành pháp luật như quan điểm đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là cần thiết. [9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu Th (Đỏ) phạm tội: “Đánh bạc”. Xử phạt: Nguyễn Hữu Th (Đỏ) 20.000.000 đồng. 2. Căn cứ Điều 46, Điều 47 và Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu 01 bộ bài Tây 52 lá;

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 930.000 (chín trăm ba mươi nghìn) đồng.

- Giao trả lại cho bị cáo số tiền 17.909.000 (mười bảy triệu chín trăm lẻ chín nghìn) đồng nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/11/2021 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố X). 4. Căn cứ Điều 135, 136 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Buộc bị cáo Nguyễn Hữu Th phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo Nguyễn Hữu Th có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ