vanban.org

Bản án 133/2021/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Ngô Quyền, TP. Hải Phòng Tuyên án 16/08/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Thời hạn cải tạo không giam giữ của bị cáo tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã T, huyện TL, thành phố Hải Phòng nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Miễn khấu trừ một phần thu nhập đối với bị cáo theo khoản 3 Điều 36 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Thị V phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ theo quy định tại Điều 36 của Bộ luật Hình sự và những nghĩa vụ quy định tại các điều 99, 100… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "giao thông - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Thời hạn cải tạo không giam giữ của bị cáo tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã T, huyện TL, thành phố Hải Phòng nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 36 Bộ luật Hình sự; Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NGÔ QUYỀN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 133/2021/HS-ST
Ngày 16-8-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Mười

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Đức Dũng

Ông Nguyễn Hồng Đại

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thanh Thủy - Thư ký Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Thanh Hằng- Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ L số: 124/2021/TLST-HS ngày 23 tháng 7 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 133/2021/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị V, sinh ngày 29 tháng 10 năm 1981 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn X, xã T, huyện T, thành phố H; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Bá V và bà Phạm Thị L; có chồng là Phạm Văn L và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 01/6/2021; có mặt.

Bị hại: Ông Đào Quang D, sinh năm 1945; nơi cư trú: đường Đ, phường M quận N, thành phố H (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1945; nơi cư trú: đường Đ, phường M, quận N, thành phố H (là vợ); vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 05 giờ ngày 26/4/2021, Nguyễn Thị V có giấy phép lái xe hạng A1, điều khiển xe mô tô BKS 16K1- 2813 phía sau có giá chở hàng rau củ, đi trên đường Lê Lợi sang đường Đ, hướng về Cầu Tre. Khi đi đến khu vực vòng xuyến ngã 6 L (vị trí đầu đường Đ về Cầu Tre), phường L, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng thì đâm vào thanh khung sườn bên trái xe đạp do ông Đào Quang Dũng, sinh năm 1945; nơi cư trú: đường Đ, phường M quận N, thành phố H điều khiển đi từ đường Lê Hồng Phong hướng về đường Nguyễn Trãi khiến ông Đào Quang D bị ngã ra đường. Ông Đào Quang D đã được Nguyễn Thị V đưa đi cấp cứu tại bệnh viện, sau đó đến cơ quan Công an trình báo. Đến 01 giờ ngày 27/4/2021, ông Đào Quang D tử vong.

Kết quả khám nghiệm hiện trường: Hiện trường nơi xảy ra tai nạn là khu vực vòng xuyến ngã 6 L, phía đầu đường Đ về Cầu Tre, phường L, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Mặt đường có bề rộng 50m, bề mặt được dải nhựa áp phan bằng phẳng, được phân làm hai chiều, phân làn ô tô, làn hỗn hợp xe ô tô, xe mô tô, xe thô sơ ở làn trong, có đầy đủ hệ thông biển báo, sơn kẻ đường, hệ thống đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu. Tình trạng mặt đường khô ráo, không trơn trượt, không có chướng ngại vật. Lấy mép đường bên phải theo chiều đi của xe đạp làm chuẩn; lấy cột điện LHP1- 3/01 đầu đường Lê Hồng Phong và cột biển báo đầu đường Đ làm điểm cố định các số đo.

Vị trí xe đạp màu đen nhãn hiệu BIKEB ở phần giữa đường, lối rẽ từ đường Lê Hồng Phong về đường Đ, phường L. Xe bị đổ nghiêng bên phải, đầu xe hướng về đường Nguyễn Trãi, đuôi xe hướng về đường Lê Hồng Phong, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Đo từ tâm trục bánh sau tới cột biển báo là 22,15m, tới cột điện LHP1-3/01 là 50,1m, đo tới tâm trục bánh sau xe mô tô BKS 16K1-2813 là 2,1m, đo từ tâm bánh trước xe đạp tới tâm bánh trước xe mô tô BKS 16K1-2813 là 4,5m, đo vuông góc với mép vòng xuyến là 27m, đo vuông góc tới mép đường bên phải là 17,1m, đo tới mép vạch sơn đảo chiều là 4,8m, đo tới vị trí nạn nhân là1,5 mét.

Vị trí xe mô tô BKS 16K1-2813 ở phần giữa đường, lối rẽ từ đường Lê Hồng Phong về đường Đ, phường L. Xe mô tô bị đổ nghiêng bên phải, đầu xe hướng về đường Đ, đuôi xe hướng về đường Lê Lợi, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Đo từ tâm trục bánh sau tới cột biển báo là 20,2m, tới cột điện LHP1-3/01 là 48,6m, đo vuông góc với mép vòng xuyến là 29m, đo vuông góc tới mép đường bên phải là 14,9m, đo tới mép vạch sơn đảo chiều là 4,8m, đo tới vị trí nạn nhân là 1,5m, đo tới tâm trục bánh sau xe đạp là 2,1m; đo từ tâm bánh trước xe mô tô BKS: 16K1-2813 tới tâm bánh trước xe đạp là 4,5m, đo tới vị trí nạn nhân là 2m.

Vị trí nạn nhân được xác định ở phần giữa đường, lối rẽ từ đường Lê Hồng Phong về đường Đ, phường L, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Nạn nhân nằm nghiêng bên phải, trạng thái bất tỉnh, đầu hướng về đường Đ, chân hướng về đường Lê Lợi, từ vị trí nạn nhân đo tới tâm trục bánh sau xe đạp 1,5 mét, đo tới tâm bánh sau xe mô tô BKS: 16K1-2813 là 02 mét.

Khám nghiệm tử thi: Nạn nhân Đào Quang Dbị đa chấn thương, chấn thương sọ não, hàm mặt, gây vỡ xương đỉnh thái dương phải, vỡ xương đá phải, vách ngăn mũi lệch trái và tổn thương nội sọ nặng. Kết luận giám định pháp y về tử thi số 101/2021/TT ngày 04/5/2021 của Trung tâm Pháp y Hải Phòng, kết luận: Nạn nhân Đào Quang Dbị tai nạn giao thông chết vì suy hô hấp, suy tuần hoàn cấp không hồi phục do đa chấn thương, chấn thương sọ não, hàm mặt nặng.

Khám phương tiện xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS16K1-2813: Xe có đầy đủ gương chiếu hậu, đèn chiếu sáng đèn tín hiệu. Đầu mỏm thanh giảm xóc bên trái có dấu vết cày xước, hằn lõm bề mặt kim loại trên diện 1,3 x 0,9 cm hướng trượt xước từ trước về sau từ trên xuống dưới, điểm thấp nhất cách mặt đất 21,5cm. Đầu mỏm tay điều khiển bên phải có vết cày xước, hằn lõm bề mặt kim loại trên diện 1,5 x 0,5 cm hướng trượt xước từ trước về sau, điểm thấp nhất cách mặt đất là 98,7 cm; Tại võng xe, có móc treo các túi nilon đựng rau quả có kích thước trên diện 53 x 30 cm. Phía sau có giá chở hàng, giá hàng phía sau bên trái có kích thước được đo từ càng xe sau có chiều rộng là 53 cm, chiều dài là 63 cm, cao so với mặt đất là 80 cm, giá hàng phía sau bên phải có kích thước được đo từ càng xe có chiều rộng là 53 cm, chiều dài là 61 cm, cao so với mặt đất là 120 cm, khi hạ hàng giá chở hàng có kích thước chiều rộng là 43 cm, chiều dài là 62 cm.

Khám phương tiện xe đạp màu đen nhãn hiệu BIKEB thể hiện: Xe có đèn chiếu sáng phía trước và đèn báo hiệu phía sau. Đầu mỏm tay điều khiển bên phải có dấu vết cày xước hằn lõm bề mặt kim loại trên diện 16 x 2 cm, hướng trượt xước từ dưới lên trên, điểm thấp nhất cách mặt đất 96,5 cm, tay điều khiển bị vặn sang trái so với thiết kế, đo từ đầu mỏm tay điều khiển bên trái tới cọc yên là 5cm, thanh giá đỡ người ngồi phía sau bên phải có vết cày xước hằn lõm bề mặt kim loại có kích thước trên diện 2 x 0,3 cm hướng trượt xước từ trước về sau từ trên xuống dưới, điểm thấp nhất cách mặt đất 63 cm, khung dưới bên trái phía sau xe bị cong vênh bẹp lõm ốp sát vào lốp bánh sau, điểm bẹp lõm cách trục bàn đạp bên trái là 20 cm, cách trục bánh sau bên trái là 22 cm, trên bề mặt còn bám dính tạp chất màu đen trên diện 3 x 12 cm có hướng trượt từ trước về sau từ trên xuống dưới, mép dấu vết gần nhất với trục bánh sau bên trái là 8 cm, điểm thấp nhất cách mặt đất là 28,5 cm. Bánh sau xe bị cong vênh ốp sát vào khung xe kẹt không chuyển động được.

Quá trình điều tra Nguyễn Thị V đã thừa nhận, khi Nguyễn Thị V điều khiển xe đi vào nút giao thông vòng xuyến đã không chú ý quan sát, không giảm tốc độ để đảm bảo an toàn nên đã dẫn đến va chạm như nội dung nêu trên. Lời khai nhận nêu trên của Nguyễn Thị V phù hợp với biên bản tiếp nhận vụ việc; phù hợp sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường; kết luận giám định pháp y về tử thi; biên bản khám phương tiện, lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Thị V đã bồi thường cho gia đình ông Đào Quang Dsố tiền 120.000.000 đồng, gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường gì khác và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Vật chứng: 01 xe mô tô Honda Wave BKS 16K1-2813, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị V; 01 xe đạp nhãn hiệu BIKEN màu đen, Cơ quan điều tra đã trả lại cho cho gia đình ông Đào Quang Dquản L.

Đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Thị L là vợ ông Dtrình bày trong biên bản làm việc ngày 19/5/2021 và đơn đề nghị gửi cơ quan điều tra ngày 22/6/2021. Gia đình bị cáo đã bồi thường 120.000.000 đồng tiền khắc phục hậu quả và xác nhận ông Dcũng có một phần lỗi khi tham gia giao thông. Đại diện người bị hại không có yêu cầu gì khác và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại Bản Cáo trạng số 121/CT-VKSNQ ngày 20/7/2021 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị V về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung trên, phù hợp với biên bản tiếp nhận vụ việc; phù hợp sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường; kết luận giám định pháp y về tử thi; biên bản khám phương tiện, lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị V với mức án từ 18 tháng đến 24 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Miễn khấu trừ một phần thu nhập đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Thị V đã bồi thường cho gia đình ông Đào Quang Dsố tiền 120.000.000 đồng, gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường gì khác và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên không xem xét giải quyết.

Về xử L vật chứng: 01 xe mô tô Honda Wave BKS 16K1-2813, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo; 01 xe đạp nhãn hiệu BIKEN màu đen đã trả lại cho cho gia đình ông Đào Quang Dquản L nên không xem xét giải quyết; về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên:

Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung trên, phù hợp với biên bản tiếp nhận vụ việc; phù hợp sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường; kết luận giám định pháp y về tử thi; biên bản khám phương tiện, lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 05 giờ ngày 26/4/2021, Nguyễn Thị V điều khiển mô tô biển kiểm soát 16K1-2813 phía sau có giá đỡ chở hàng, đi trên đường Lê Lợi sang đường Đ, hướng về Cầu Tre. Khi đi đến khu vực vòng xuyến ngã 6 L (vị trí đầu đường Đ về Cầu Tre), phường L, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng do không quan sát để đảm bảo an toàn nên đã đâm vào ông Đào Quang Dđang điều khiển xe đạp đang lưu thông phía trước dẫn đến tai nạn. Hậu quả làm ông Đào Quang Dtử vong. Việc điều khiển xe mô tô trên xe có giá chở hàng vượt quá quy định, tham gia giao thông không chú ý quan sát, không giảm tốc độ để đảm bảo an toàn khi đến khu vực ngã 6, Nguyễn Thị V gây hậu quả 01 người chết đã vi phạm Điều 24 Luật Giao thông đường bộ; Khoản 3 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ Giao thông Vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới tham gia giao thông đường bộ; khoản 4 Điều 19 Thông tư số 46/2015/TT-BGTVT ngày 07/9/2015 của Bộ Giao thông Vận tải quy định về chiều rộng xếp hàng hóa trên phương tiện giao thông đường bộ khi lưu thông trên đường bộ. Tại thời điểm thực hiện hành vi (ngày 26/4/2021), bị cáo là người trên 18 tuổi, có đầy đủ năng lực hành vi trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện với lỗi vô ý. Như vậy hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng quy định của pháp luật.

- Xét về mức độ lỗi:

[3] Bị cáo Nguyễn Thị V khi tham gia giao thông đã không chú ý quan sát, không giảm tốc độ để đảm bảo an toàn khi đến khu vực ngã 6 gây hậu quả 01 người chết đã vi phạm Điều 24 Luật Giao thông đường bộ; khoản 3 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ Giao thông Vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới tham gia giao thông đường bộ; khoản 4 Điều 19 Thông tư số 46/2015/TT-BGTVT ngày 07/9/2015 của Bộ Giao thông Vận tải quy định về chiều rộng xếp hàng hóa trên phương tiện giao thông đường bộ khi lưu thông trên đường bộ, phạm tội do lỗi vô ý. Người bị hại ông Đào Quang Dqua xem xét sơ đồ hiện trường vụ tai nạn nhận thấy ông cũng có lỗi một phần khi tham gia giao thông không quan sát kỹ và không nhường đường cho các phương tiện đi từ bên trái giữ khoảng cách an toàn với xe mô tô, theo khoản 3 Điều 24 Luật Giao thông đường bộ. Mặt khác tại biên bản làm việc ngày 19/5/2021 đại diện gia đình bị hại cũng xác nhận sự việc vụ tai nạn giao thông cũng có một phần lỗi của người bị hại. Như vậy, trong vụ án này cần xác định lỗi xảy ra dẫn đến bị hại chết nguyên nhân là lỗi hỗn hợp.

- Đánh giá về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ, an toàn, trật tự công cộng, mà còn xâm phạm đến tính mạng của người khác. Việc đưa bị cáo ra xét xử trước pháp luật là cần thiết để giáo dục bị cáo và đáp ứng yêu cầu phòng ngừa chung.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Nguyễn Thị V không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại, sau khi phạm tội ra đầu thú và được gia đình bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có bố đẻ là thương binh loại A thương tật hạng 5/8 quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ, trên cơ sở đề nghị của Kiểm sát viên và kết quả xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa; sau khi xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo nhân thân chưa có tiền án tiền sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và có nơi thường trú rõ ràng, nên không cần thiết bắt bị cáo phải cách ly khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ theo khoản 1 Điều 36 của Bộ luật Hình sự, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú cùng gia đình quản L, giám sát là phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và phòng ngừa chung.

- Về việc khấu trừ thu nhập:

Bị cáo Nguyễn Thị V là lao động tự do, thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử miễn khấu trừ một phần thu nhập đối với bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 36 của Bộ luật Hình sự.

- Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo Nguyễn Thị V đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 120.000.000 đồng, gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường gì khác và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về biện pháp ngăn chặn:

Cần tuyên hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Nguyễn Thị V theo quy định tại Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về xử L vật chứng:

01 xe mô tô Honda Wave BKS 16K1-2813, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị V; 01 xe đạp nhãn hiệu BIKEN màu đen, Cơ quan điều tra đã trả lại cho cho gia đình bị hại quản L, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về án phí:

Bị cáo Nguyễn Thị V phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo đối với bản án:

Bị cáo Nguyễn Thị V, người đại diện hợp pháp cho người bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; Điều 36; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Thị V 24 (hai mươi bốn) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Thời hạn cải tạo không giam giữ của bị cáo tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã T, huyện TL, thành phố Hải Phòng nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Miễn khấu trừ một phần thu nhập đối với bị cáo theo khoản 3 Điều 36 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Thị V phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ theo quy định tại Điều 36 của Bộ luật Hình sự và những nghĩa vụ quy định tại các điều 99, 100, 101 của Luật Thi hành án hình sự.

Giao bị cáo Nguyễn Thị V cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện TL, thành phố Hải Phòng giám sát và giáo dục, tạo điều kiện tìm việc làm cho bị cáo theo quy định tại Luật Thi hành án hình sự. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T, huyện TL, thành phố Hải Phòng trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp người được cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Luật Thi hành án hình sự.

- Căn cứ Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Nguyễn Thị V.

Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản L và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Thị V phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo đối với bản án:

Bị cáo Nguyễn Thị V được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người đại diện hợp pháp cho bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ