vanban.org

Bản án 133/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng Tuyên án 13/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố: Các bị cáo Nông Kim H, Nông Quảng H1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nông Kim H mức án 7 (bảy) năm tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 21/6/2021). Xử phạt bị cáo Nông Quảng H1 mức án 7 (bảy) năm tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 22/6/2021). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nông Kim Hữu - Nông Quảng H - Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố: Các bị cáo Nông Kim H, Nông Quảng H1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRÙNG KHÁNH
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 133 /2021/HS-ST
Ngày: 13/12/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nông Quốc Hùng

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hoàng Văn Học

2. Bà Mã Thị Huệ

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Lý Thị Hoài - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh tham gia phiên tòa: Bà Nông Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 128/2021/HSST ngày 16 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 129/2021/QĐXXST- HS ngày 26/11/2021 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nông Kim H; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 15 tháng 01 năm 1996 tại Trùng Khánh, Cao Bằng; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: xóm BG, xã ĐT, huyện TK, tỉnh CB; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề ngH3: Trồng trọt; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Con ông Nông Kim C, sinh năm 1974 và bà Nông Thị M, sinh năm 1972, đều làm nghề trồng trọt và trú tại xóm BG, xã ĐT, huyện TK, tỉnh CB; Anh chị em ruột: Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con cả trong gia đình; Vợ: Nông Thị B, sinh năm 1998, làm nghề trồng trọt và trú tại xóm BG, xã ĐT, huyện TK, tỉnh CB; Con: Bị cáo có 01 con sinh năm 2020; Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/6/2021 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Có mặt.

2. Họ và tên: Nông Quảng H1; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 09 tháng 9 năm 1988 tại Trùng Khánh, Cao Bằng; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: xóm BM, xã ĐT, huyện TK, tỉnh CB; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề ngH3: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 05/12; Con ông Nông Ích N và bà Nông Thị R, đều sinh năm 1964, làm nghề trồng trọt và trú tại xóm BM, xã ĐT, huyện TK, tỉnh CB; Anh chị em ruột: Gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con út trong gia đình; Vợ: Lương Hoàng N1, sinh năm 1989, làm nghề trồng trọt và trú tại xóm BM, xã ĐT, huyện TK, tỉnh CB; Con: Bị cáo có 01 con sinh năm 2010; Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/6/2021 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Nông Đình Gi, sinh ngày 18/10/1979 Địa chỉ: Xóm BM, xã ĐT, huyện TK, tỉnh CB. Vắng mặt có lý do.

- Người làm chứng:

1. Nông Đình T1, sinh ngày 04/6/1999 Địa chỉ: Xóm BG, xã ĐT, huyện TK, tỉnh CB.

2.Hoàng Ích Đ, sinh ngày 02/8/1984 Địa chỉ: Xóm BG, xã ĐT, huyện TK, tỉnh CB. Vắng mặt;

3. Phương Ích T2 – Sinh ngày 24/7/1996 Địa chỉ: Xóm BG, xã ĐT, huyện TK, tỉnh CB.

4. Triệu Văn C1, sing ngày 08/8/1991 Địa chỉ: Xóm KN, xã ĐT, huyện TK, tỉnh CB.

5. Triệu Văn H3, sinh ngày 17/4/1988 Địa chỉ: Xóm BS, xã LQ, huyện HL, tỉnh CB.

Tất cả những người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 19 giờ 45 phút ngày 21 tháng 6 năm 2021, tổ công tác công an xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh phối hợp với tổ công tác Đồn Biên phòng Đàm Thủy huyện Trùng Khánh làm nhiệm vụ tuần tra tại khu vực xóm BG, xã ĐT, huyện TK, tỉnh CB phát hiện tại nhà Nông Kim H, sinh năm 1996, trú tại xóm BG, xã ĐT, huyện TK, tỉnh CB có dấu hiệu thực hiện hành vi phạm tội về ma túy. Tiến hành kiểm tra, phát hiện trong túi quần bên phải phía sau của H đang mặc 01 (một) gói giấy vệ sinh màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng. Nông Kim H khai gói chất bột màu trắng trên là ma túy (Heroine) của H mua về sử dụng và bán lẻ cho những người nghiện nhằm mục đích kiếm lời. Nguồn gốc ma túy thu giữ là vào khoảng 19 giờ ngày 21/6/2021, H đưa 500.000 đồng nhờ Nông Quảng H1, sinh năm 1988, trú tại xóm BM, xã ĐT, huyện TK mua cho. Tiến hành khám xét nơi ở của Nông Kim H phát hiện thu giữ 02 mảnh giấy bạc; 01 mảnh giấy bạc màu vàng đồng và 01 dao lam, đều đã qua sử dụng.

Căn cứ vào lời khai của Nông Kim H và các tài liệu, chứng cứ thu thập được. Hồi 09 giờ 30 ngày 22 tháng 6 năm 2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh tiến hành khám xét khẩn cấp người và chỗ ở của Nông Quảng H1, trú tại xóm BM, xã ĐT, huyện TK, tỉnh CB. Kết quả khám xét phát hiện thu giữ 02 gói giấy bạc màu vàng, bên trong đều chứa chất bột màu trắng. H1 khai nhận là ma túy (Heroine) của H1 mua về sử dụng và bán lại cho người nghiện để kiếm lời.

Ngày 22 tháng 6 năm 2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh tiến hành cân xác định khối lượng vật chứng vụ án, lấy mẫu giám định. Kết quả cân số chất bột màu trắng thu giữ của Nông Kim H có khối lượng 0,27g (không phẩy hai bảy gam); Số chất bột màu trắng thu giữ của Nông Quảng H1 có khối lượng 0,09g (không phẩy không chín gam). Tại bản kết luận giám định số 249 / GĐMT ngày 06/7/2021 và số 250 / GĐMT ngày 07/7/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là Ma túy. Loại: “Heroine".

Tại cơ quan điều tra, Nông Kim H khai nhận bản thân sử dụng và lệ thuộc vào ma túy, loại Heroine từ năm 2014 và bắt đầu bán lẻ ma túy từ đầu tháng 6 năm 2021. Địa điểm bị cáo bán ma túy là tại nhà của bị cáo. Hình thức giao dịch là các đối tượng nghiện trực tiếp đến nhà gặp bị cáo hỏi mua ma túy và đưa tiền cho bị cáo thì bị cáo đưa ma túy cho người mua. Bị cáo được bán ma túy, loại Heroine cho những người sau:

Bán cho Nông Đình T1, sinh năm 1999, trú tại xóm BG, xã ĐT, huyện TK, tỉnh CB 04 (bốn) lần, 02 (hai) lần 50.000 đồng, 01 (một) lần 60.000 đồng, thời gian cụ thể bị can không nhớ. Lần gần nhất khoảng 12 giờ ngày 21/6/2021 bán với số tiền 90.000 đồng.

Bán cho Hoàng Ích Đ, sinh năm 1984, trú tại xóm BG, xã ĐT, huyện TK, tỉnh CB 02 (hai) lần, mỗi lần 50.000 đồng, không nhớ thời gian cụ thể, chỉ nhớ trong tháng 6 năm 2021, cách ngày bị bắt khoảng 03 đến 04 ngày.

Bán cho Phương Ích T2, sinh năm 1996, trú tại xóm Bản Giốc 04 (bốn) lần, mỗi lần 50.000 đồng. Lần gần nhất khoảng 12 giờ 30 phút ngày 21/6/2021 với giá 50.000 đồng.

Nguồn gốc số ma túy thu giữ là do H nhờ Nông Quảng H1, xóm BM, xã ĐT, huyện TK đi mua ma túy giúp. Trước đây bị cáo có hỏi H1 là “có chỗ nào bán ma túy không” thì H1 nói là “biết chỗ lấy ma túy”. Sau đó, bị cáo được mua ma túy với anh H1 03 lần, 02 lần đầu nhờ H1 mua giúp mỗi lần 1.200.000 đồng, lần thứ 03 vào ngày 21/6/2021, hỏi mua ma túy với H1 500.000 đồng. Cả 03 lần trên bị cáo đều đến nhà của H1 và đưa tiền cho H1 để đi mua ma túy. Nhận tiền xong, H1 ra ngoài một lát rồi quay lại, mỗi lần đều đưa cho bị cáo 01 gói giấy lịch màu trắng, bên trong có chứa ma túy. Để trả công cho H1, mỗi lần bị cáo đều trích lại một ít ma túy tương đương với số tiền khoảng 100.000 đồng cho H1 sử dụng.

Tại cơ quan điều tra, Nông Quảng H1 khai nhận bản thân sử dụng và lệ thuộc vào ma túy, loại Heroine từ năm 2019. Ngoài việc mua ma túy về sử dụng, trong tháng 6 năm 2021, bị cáo thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Hình thức giao dịch là bị cáo biết chỗ có ma túy bán nên những người nghiện đến nhà bị cáo hỏi, đưa tiền cho H1, H1 nhận tiền rồi đi sang nhà anh Nông Đình Gi, sinh năm 1979, cùng xóm mua ma túy với Gi rồi mang về cho họ. Trước khi đưa ma túy cho người mua, H1 trích lại một phần để sử dụng. Cụ thể, bị cáo được bán ma túy cho những người sau: Bán cho Nông Kim H, sinh năm 1996, trú tại xóm BG, xã ĐT, huyện TK, tỉnh CB 03 (ba) lần, 02 lần đầu, mỗi lần 1.200.000 đồng, lần gần nhất ngày 21/6/2021 bán 500.000 đồng. Mỗi lần mua ma túy, H đều đến nhà H1 đưa tiền cho H1, H1 nhận tiền rồi sang nhà anh Gi cùng xóm mua ma túy với Gi rồi mang về cho H, sau mỗi lần mua về H1 trích lại một phần tương đương với số tiền 100.000 đồng để sử dụng.

Bán cho Triệu Văn C1, sinh năm 1991, trú tại xóm Keo Nà, xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng 01 (một) lần 3.600.000 đồng vào trưa ngày 21/6/2021. Khi đó, C1 đến nhà H1, đưa cho H1 4.000.000 đồng, H1 trích lấy 400.000 đồng tiền công. Còn 3.600.000 đồng, H1 đi mua ma túy với Gi, người cùng xóm. Sau khi mua được ma túy, H1 trích lấy một phần ma túy để sử dụng và đưa số còn lại cho anh C1.

Bán cho Triệu Văn H3, sinh năm 1988, trú tại xóm Bản Sao, xã Lý Quốc, huyện Hạ Lang 02 lần, mỗi lần 1.200.000 đồng, không nhớ thời gian cụ thể. Anh H3 đến nhà H1 đưa tiền cho H1, H1 cầm tiền rồi đi mua ma túy với Gi. Sau đó, trích một phần ma túy để sử dụng rồi đưa ma túy cho H3. Việc thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy do một mình H1 thực hiện. Không trao đổi, thỏa thuận với Nông Đình Gi.

Quá trình điều tra, Nông Kim H, Nông Quảng H1 thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của các đối tượng mua ma túy với các bị cáo về số lần, số tiền, thời gian, địa điểm và hình thức mua bán ma túy.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh có tạm giữ đối với Nông Kim H gồm: ma túy, loại Heroine; 01 (một) mảnh giấy vệ sinh; 02 (hai) mảnh giấy bạc màu vàng; 02 (hai) mảnh giấy bạc đã qua sử dụng; 01 (một) dao lam đã qua sử dụng; 50.000d (năm mươi nghìn đồng); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia loại bàn phím bấm, màu đen, đã qua sử dụng, màn hình điện thoại bị hỏng 01 góc màn hình, số IMEI 1: 358567080613033, số IMEI 2: 358567080613036.

Tạm giữ đối với Nông Quảng H1: 02 (hai) mảnh giấy bạc màu vàng; 01 (một) dao lam và 01 (một) nửa mảnh dao làm đều bám dính chất bột màu trắng 340.000đ (ba trăm bốn mươi nghìn đồng) và 02 (hai) điện thoại di động, trong đó có 01 điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu Nokia, bàn phím, số seri 357979034467740; 01 điện thoại màu xanh màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Redmi số Imei 1: 860956041653421, Imei 2: 860956041653492, đều đã qua sử dụng.

Tại cơ quan điều tra các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng số: 131/CT-VKSTK ngày 16/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh đã truy tố. Tại phiên tòa bị cáo cho rằng Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội, các bị cáo không thay đổi lời khai và không khai thêm nội dung gì khác.

Trong bản luận tội, vị đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo. Đề nghị áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38, điểm s, t khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nông Kim H. Tuyên bố bị cáo Nông Kim H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy; Đề nghị xử phạt bị cáo Nông Kim H mức án từ 7 (bảy) đến 8 (tám) năm tù.

Đề nghị áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38, điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nông Quảng H1. Tuyên bố bị cáo Nông Quảng H1 phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy; Đề nghị xử phạt bị cáo Nông Quảng H1 mức án từ 7 (bảy) đến 8 (tám) năm tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

-Về vật chứng:

+ Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền do phạm tội mà có đối với Nông Kim H số tiền 50.000đ.

+ Truy thu sung công quỹ nhà nước số tiền do bị cáo Nông Kim H phạm tội mà có 500.000đ.

+ Truy thu sung công quỹ nhà nước số tiền do bị cáo Nông Quảng H1 phạm tội mà có 400.000đ.

+ Tịch thu phát mại sung công quỹ nhà nước đối với bị cáo Nông Kim H 01 chiếc điện thoại di động được đựng trong phong được niêm phong.

+ Tịch thu phát mại sung công quỹ nhà nước đối với bị cáo Nông Quảng H1 02 chiếc điện thoại di động được đựng trong phong được niêm phong.

+ Hoàn trả cho bị cáo Nông Quảng H1 số tiền 340.000đ (Ba trăm bốn mươi nghìn đồng). Nhưng cần tạm giữ lại để đảm bảo việc thi hành án.

Trong phần tranh luận: Các bị cáo không có gì cần tranh luận với phần luận tội của Viện kiểm sát.

Phần nói lời sau cùng: Bị cáo tỏ ra ăn năn, hối cải và xin được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, được hưởng mức án nhẹ nhất.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Trùng Khánh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Các yếu tố cấu thành tội phạm:

Về mặt khách quan: Các bị cáo Nông Kim H và Nông Quảng H1 do nghiện ma túy, nên để có ma túy thỏa mãn cho cơn nghiện của bản thân, các bị cáo đã có hành vi mua ma túy về sử dụng cho bản thân và bán lại cho các đối tượng nghiện khác để kiếm lời. Cụ thể bị cáo Nông Kim H đã bán ma túy 10 lần cho các đối tượng nghiện. Bị cáo Nông Quảng H1 đã bán ma túy 6 lần cho các đối tượng nghiện.

Như vậy, có thể thấy rằng hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền của nhà nước về việc quản lý các chất ma túy.

Về mặt chủ quan của tội phạm: Trong vụ án này, các bị cáo nhận thức được việc thực hiện hành vi Mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật và bị pháp luật trừng trị nhưng vì để thỏa mãn cơn nghiện ma túy của bản thân hai bị cáo đã bất chấp thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý.

Về mặt khách thể: Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến chính sách quản lý các chất ma túy của nhag nước. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh, trật tự an toàn xã hội, gây bức súc trong quần chúng nhân dân và làm gia tăng thêm tệ nạn xã hội tại địa phương.

Về mặt chủ thể: Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, các bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đủ năng lực nhận thức, năng lực hành vi. Do đó, các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội do mình gây ra.

Về tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi bị cáo: Hành vi Mua bán trái phép chất ma túy của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội.

Từ những phân tích trên đây, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh đã truy tố, lời khai của các bị cáo phù hợp lời khai tại cơ quan điều tra và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh truy tố các bị cáo Nông Kim H, Nông Quảng H1 về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 như sau:

“Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy

1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.

a)...;

b) Phạm tội 02 lần trở lên.”

Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có trình độ hiểu biết, bị cáo ý thức được việc thực hiện hành vi Mua bán trái phép chất ma túy sẽ bị pháp luật trừng trị nhưng các bị cáo đã bất chấp tất cả để thực hiện hành vi phạm tội vì mục đích để thỏa mãn cơn nghiện ma túy của bản thân. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra. Trường hợp này cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ để răn đe và giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và gia đình.

Xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo:

Qua xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Các bị cáo phạm tội đều chưa có tiền án, tiền sự. Do bản thân đua đòi, ham chơi, thích hưởng thụ nên các bị cáo đã lâm vào nghiện ma túy dẫn đến có hành vi phạm tội.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho các bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015; Riêng đối với bị cáo Nông Kim H trong quá trình điều tra đã tích cực phối hợp với cơ quan điều khai báo ra hành vi phạm tội của Nông Quảng H1, do đó Nông Kim H được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Đề nghị áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38, điểm s, t khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nông Kim H. Tuyên bố bị cáo Nông Kim H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy; Đề nghị xử phạt bị cáo Nông Kim H mức án từ 7 (bảy) đến 8 (tám) năm tù.

Đề nghị áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38, điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nông Quảng H1. Tuyên bố bị cáo Nông Quảng H1 phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy; Đề nghị xử phạt bị cáo Nông Quảng H1 mức án từ 7 (bảy) đến 8 (tám) năm tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Hội đồng xét xử xét thấy mức đề nghị về hình phạt trên là phù hợp với quy định của pháp luật, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi bị cáo thực hiện nên cần chấp nhận.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

-Tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau vì liên quan đến hành vi phạm tội và không có giá trị sử dụng:

+ 01 (một) chiếc phong bì thư đã được niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “Dao lam của Nông Quảng H1”, mặt sau phong bì có chữ ký của Nông Quảng H1, thành phần tham gia và đóng hình con dấu mực đỏ của Công an xã Đàm Thủy.

+ 01 (một) chiếc phong bì thư đã được niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “02 (hai) mảnh giấy bạc màu vàng phát hiện thu giữ đối với Nông Quảng H1 ngày 22/6/2021”, mặt sau phong bì có chữ ký của Nông Quảng H1, chữ ký của thành phần tham gia và đóng hình con dấu mực đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Trùng Khánh.

+ 01 (một) chiếc phong bì thư đã được niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng vụ Nông Kim H, hành vi mua bán trái phép chất ma túy bắt ngày 21/6/2021 tại Bản Giốc, Đàm Thủy, Trùng Khánh, Cao Bằng” mặt sau phong bì được điểm chỉ bằng dấu vân tay của Nông Kim H, các thành phần tham gia và đóng hình con dấu mực đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Trùng Khánh.

+ 01 (một) chiếc phong bì thư đã được niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng phát hiện tại chỗ ở Nông Kim H bên trong phong bì gồm các đồ vật phát hiện khi khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nông Kim H.

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền do phạm tội mà có đối với Nông Kim H số tiền 50.000đ.

- Truy thu sung công quỹ nhà nước số tiền do bị cáo Nông Kim H phạm tội mà có 500.000đ.

- Truy thu sung công quỹ nhà nước số tiền do bị cáo Nông Quảng H1 phạm tội mà có 400.000đ.

- Tịch thu phát mại sung công quỹ nhà nước đối với bị cáo Nông Kim H 01 chiếc điện thoại di động được đựng trong phong được niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “Điện thoại di động của Nông Kim H, ngày 21/6/2021” mặt sau phong bì được điểm chỉ dấu vân tay của Nông Kim H, các thành phần tham gia và đóng hình con dấu mực đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Trùng Khánh.

- Tịch thu phát mại sung công quỹ nhà nước đối với bị cáo Nông Quảng H1 02 chiếc điện thoại di động được đựng trong phong được niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “Điện thoại di động của Nông Quảng H1, ngày 22/6/2021” mặt sau phong bì có chữ ký của Nông Quảng H1, các thành phần tham gia và đóng hình con dấu mực đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Trùng Khánh.

- Hoàn trả cho bị cáo Nông Quảng H1 số tiền 340.000đ (Ba trăm bốn mươi nghìn đồng), nhưng cần tạm giữ lại để đảm bảo việc thi hành án.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về nguồn gốc số ma túy thu giữ, Nông Quảng H1 khai mua với Nông Đình Gi, người cùng xóm. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh tiến hành khám xét đối với Nông Đình Gi, sinh năm 1979, trú tại xóm Bản Mom, xã Đàm Thủy. Kết quả khám xét không thu được tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án. Tiến hành lấy lời khai Nông Đình Gi và đối chất với Nông Quảng H1, Nông Đình Gi không thừa nhận việc bán ma túy cho Nông Quảng H1. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh không đề nghị xử lý đối với Nông Đình Gi là đúng quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Tuyên bố: Các bị cáo Nông Kim H, Nông Quảng H1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; điểm s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nông Kim H.

Xử phạt bị cáo Nông Kim H mức án 7 (bảy) năm tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 21/6/2021).

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nông Quảng H1.

Xử phạt bị cáo Nông Quảng H1 mức án 7 (bảy) năm tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 22/6/2021).

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

-Tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau vì liên quan đến hành vi phạm tội và không có giá trị sử dụng:

+ 01 (một) chiếc phong bì thư đã được niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “Dao lam của Nông Quảng H1”, mặt sau phong bì có chữ ký của Nông Quảng H1, thành phần tham gia và đóng hình con dấu mực đỏ của Công an xã Đàm Thủy.

+ 01 (một) chiếc phong bì thư đã được niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “02 (hai) mảnh giấy bạc màu vàng phát hiện thu giữ đối với Nông Quảng H1 ngày 22/6/2021”, mặt sau phong bì có chữ ký của Nông Quảng H1, chữ ký của thành phần tham gia và đóng hình con dấu mực đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Trùng Khánh.

+ 01 (một) chiếc phong bì thư đã được niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng vụ Nông Kim H, hành vi mua bán trái phép chất ma túy bắt ngày 21/6/2021 tại Bản Giốc, Đàm Thủy, Trùng Khánh, Cao Bằng” mặt sau phong bì được điểm chỉ bằng dấu vân tay của Nông Kim H, các thành phần tham gia và đóng hình con dấu mực đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Trùng Khánh.

+ 01 (một) chiếc phong bì thư đã được niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng phát hiện tại chỗ ở Nông Kim H bên trong phong bì gồm các đồ vật phát hiện khi khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nông Kim H.

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền do phạm tội mà có đối với Nông Kim H số tiền 50.000đ.

- Tịch thu phát mại sung công quỹ nhà nước đối với bị cáo Nông Kim H 01 chiếc điện thoại di động được đựng trong phong bì được niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “Điện thoại di động của Nông Kim H, ngày 21/6/2021” mặt sau phong bì được điểm chỉ dấu vân tay của Nông Kim H, các thành phần tham gia và đóng hình con dấu mực đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Trùng Khánh.

- Tịch thu phát mại sung công quỹ nhà nước đối với bị cáo Nông Quảng H1 02 chiếc điện thoại di động được đựng trong phong bì được niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “Điện thoại di động của Nông Quảng H1, ngày 22/6/2021” mặt sau phong bì có chữ ký của Nông Quảng H1, các thành phần tham gia và đóng hình con dấu mực đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Trùng Khánh.

- Hoàn trả cho bị cáo Nông Quảng H1 số tiền 340.000đ (Ba trăm bốn mươi nghìn đồng), nhưng cần tạm giữ lại để đảm bảo việc thi hành án.

Xác nhận toàn bộ vật chứng trên đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/11/2021.

[3] Truy thu số tiền do các bị cáo phạm tội mà có:

- Truy thu sung công quỹ nhà nước số tiền do bị cáo Nông Kim H phạm tội mà có 500.000đ.

- Truy thu sung công quỹ nhà nước số tiền do bị cáo Nông Quảng H1 phạm tội mà có 400.000đ.

[4] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Xử buộc các bị cáo Nông Kim H và Nông Quảng H1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ nhà nước.

[4] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Nông Kim H và Nông Quảng H1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nông Đình Gi có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ