- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - anh Nguyễn Tấn Đ.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 133 /2021/HNGĐ-ST Ngày: 10-12-2021 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Bà Võ Thị Thanh Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hồ Phi Công
2. Ông Nguyễn Xuân Tùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Châu Loan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Dung- Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 386/2021/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 155/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2021 và Thông báo số 400/2021/TB-TA ngày 22/11/2021, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Tấn Đ, sinh năm: 1991
Địa chỉ: tổ 13, ấp 1, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai
2. Bị đơn: Chị Lâm Thị Ph, sinh năm: 1995
Địa chỉ: tổ 13, ấp 1, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
(Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Nguyễn Tấn Đ trình bày: Anh và chị Lâm Thị Ph tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn năm 2013 tại Ủy ban nhân xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
Cuộc sống chung của anh chị không HPh. Nguyên nhân là do vợ chồng sống không hợp nhau, thường xuyên cãi nhau, bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nên không có tiếng nói chung. Anh chị đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay. Trong thời gian không sống chung, anh chị không quan tâm đến nhau. Nay anh không còn tình cảm gì với chị Ph nữa nên yêu cầu được ly hôn với chị Ph.
Về con chung: anh chị có 01 con chung là cháu Nguyễn Thị Mỹ H, sinh ngày: 15/10/2014. Khi ly hôn, anh yêu cầu được nuôi cháu H và không yêu cầu chị Ph cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: anh chị không có nợ chung.
- Bị đơn chị Lâm Thị Ph trình bày: Chị thống nhất với lời trình bày của anh Ph về điều kiện, hoàn cảnh kết hôn, diễn biến cuộc hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung. Cuộc sống vợ chồng anh chị không phúc do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, không có tiếng nói chung nên thường xuyên xảy ra cãi vã. Anh chị đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay. Từ khi không sống chung, anh chị đã không quan tâm đến nhau, không còn tình cảm vợ chồng nên chị Ph đồng ý ly hôn với anh Đ.
Quá trình chung sống, anh chị có 01 con chung như anh Ph trình bày. Khi ly hôn, chị đồng ý giao con chung Nguyễn Thị Mỹ H, sinh ngày: 15/10/2014 cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chị Ph không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: anh chị không có nợ chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Tấn Đ và chị Lâm Thị Ph có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, do đó tiến hành xét xử vắng mặt anh Đ, chị Ph là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Anh Đ, chị Ph tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn năm 2013 tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp theo quy định của pháp luật.
Xét yêu cầu của nguyên đơn nhận thấy: Anh Đ khai cuộc sống chung của anh chị không phúc, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, thường xuyên cãi nhau nên không có tiếng nói chung. Anh chị đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay. Trong thời gian không sống chung, anh chị không hòa giải, không hàn gắn, không quan tâm đến nhau. Chị Ph cũng thừa nhận cuộc sống chung của anh chị không phúc, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi vã. Anh chị không còn chung sống từ năm 2017 đến nay vì vợ chồng không còn quan tâm đến nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn nên anh Đ yêu cầu được ly hôn, chị Ph đồng ý. Từ đó cho thấy, tình trạng hôn nhân của anh Đ và chị Ph mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không Đ được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Đ là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Anh chị có 01 con chung là cháu Nguyễn Thị Mỹ H, sinh ngày: 15/10/2014. Khi ly hôn, anh Đ yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Mỹ H. Xét thấy, cháu Hcó nguyện vọng được sống với cha và hiện nay cháu Hđang do anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng từ khi vợ chồng ly thân từ năm 2017 đến nay nên giao cháu Hcho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Tấn Đ tạm thời không yêu cầu chị Lâm Thị Ph cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung: anh Đ và chị Ph trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về nợ chung: Anh Đ và chị Ph trình bày anh chị không có nợ chung nên không giải quyết.
Về án phí: Anh Đ phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35; Điều 39, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - anh Nguyễn Tấn Đ.
1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Tấn Đ được ly hôn với chị Lâm Thị Ph.
Quan hệ hôn nhân chấm dứt và giấy chứng nhận kết hôn số 101, quyển số 01/2013 ngày 16/9/2013 do Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai cấp không còn giá trị pháp lý, kể từ ngày bản án, quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Mỹ H, sinh ngày 15/10/2014 cho anh Nguyễn Tấn Đ trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Tấn Đ tạm thời không yêu cầu chị Lâm Thị Ph cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét, giải quyết.
Chị Lâm Thị Ph được quyền thăm nom con chung nhưng không gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của anh Nguyễn Tấn Đ. Khi cần thiết, anh Nguyễn Tấn Đ và chị Lâm Thị Ph được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
4. Về nợ chung: Các đương sự khai không có nên không xem xét giải quyết.
5. Về án phí: Anh Nguyễn Tấn Đ phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh Đ đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0006811 ngày 23 tháng 6 năm 2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc. Anh Nguyễn Tấn Đ đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Tấn Đ và chị Lâm Thị Ph được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Xuân Lộc; - Chi cục THADS huyện Xuân Lộc; - UBND cấp xã; - Các đương sự; - Lưu án văn, hồ sơ vụ án. Các Hội thẩm nhân dân Hồ Phi Công Nguyễn Xuân Tùng | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Thanh Phượng Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa Võ Thị Thanh Phượng |