- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng TMCP Đ + Lâm Kim H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ đối với bà Lâm Kim H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 133/2021/DS-ST Ngày 22-9-2021 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Chiền
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Thị Thanh Vân
2. Ông Võ Thanh Tân
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trương Phi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 133/2021/TLST-DS, ngày 07 tháng 5 năm 2021 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 303/2021/QĐXXST-DS, ngày 16 tháng 6 năm 2021 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số: 585/TB-TA, ngày 18 tháng 8 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ.
Địa chỉ: đường P, phường X, quận P, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Võ Minh T - Chủ tịch Hồi đồng quản trị (theo giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số xxxxxxxxxx, đăng ký thay đổi lần đầu ngày 08/4/1992, đăng ký thay đổi lần thứ 39, ngày 11/9/2015 do Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hồ Chí Minh cấp).
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Quỳnh D - Giám đốc Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh An Giang - Phòng Giao dịch M (theo Quyết định ủy quyền số 1369/QĐ-DAB-PC, ngày 15/8/2016). (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Bà Lâm Kim H, sinh năm 1978
Cư trú: đường T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai và quá trình giải quyết bà Nguyễn Thị Quỳnh D là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngân hàng TMCP Đ (sau đây gọi là Ngân hàng) có cho bà Lâm Kim H vay số tiền 20.000.000 đồng theo Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp số 00659167/0057919801T19039, ngày 01/11/2019 được ký kết giữa bên cho vay Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh An Giang - Phòng giao dịch M với bên vay bà Lâm Kim H, thời hạn vay 12 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày bên vay rút vốn đầu tiên; Lãi suất trong hạn 12%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn; Mục đích sử dụng bổ sung vốn sản xuất, kinh doanh; Phương thức thanh toán: nợ gốc và lãi vay được bên vay trả góp thành 12 kỳ, chi tiết số tiền thanh toán theo từng kỳ đính kèm theo hợp đồng vay; Hình thức bảo đảm nợ vay: không có tài sản bảo đảm.
Tính đến ngày 26/4/2021, bà H đã thanh toán được số tiền gốc và lãi là 18.900.000 đồng và từ đó không trả nữa dù Ngân hàng đã đôn đốc, nhắc nhở nhiều lần nên Ngân hàng khởi kiện.
Quá trình Tòa án giải quyết, ngày 07/6/2021 bà H có trả cho Ngân hàng số tiền 1.000.000 đồng, trong đó: vốn 815.385 đồng và lãi 184.615 đồng nên Ngân hàng rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền này, chỉ yêu cầu bà H có trách nhiệm trả 3.091.435 đồng, gồm: vốn 2.500.000 đồng, lãi quá hạn tạm tính đến ngày 22/9/2021 là 591.435 đồng. Đồng thời, yêu cầu bà H tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 23/9/2021 đến khi thanh toán xong số nợ.
Theo Đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn ngày 25/10/2019 của bà Lâm Kim H có xác nhận của Hội liên hiệp phụ nữ phường M, nếu trường hợp bà H không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ của bên vay thì ông Phan Chí H (là chồng bà H) có trách nhiệm trả nợ thay cho bà H đến khi trả dứt số nợ vay cho Ngân hàng. Tuy nhiên, Ngân hàng xác định chỉ yêu cầu bà H có trách nhiệm trả nợ, không yêu cầu ông H phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh cho bà H.
Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng bị đơn bà Lâm Kim H vẫn vắng mặt. Tại phiên tòa, bà H tiếp tục vắng mặt không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và của đương sự như sau:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý và tại phiên tòa là đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 86 Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do, không trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn nên chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ, buộc bà Lâm Kim H phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền 3.091.435 đồng, gồm: vốn 2.500.000 đồng, lãi quá hạn tạm tính đến ngày 22/9/2021 là 591.435 đồng. Kể từ ngày 23/9/2021, bà H còn phải trả lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán xong nợ. Đình chỉ đối với yêu cầu bà H trả số tiền vốn và lãi 1.000.000 đồng do Ngân hàng rút một phần yêu cầu khởi kiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Đ yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tài sản với bị đơn bà Lâm Kim H. Bà H cư trú tại đường T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân thành phố L thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt không lý do, nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng nguyên đơn và bị đơn.
Về nội dung: Ngày 01/11/2019, bà Lâm Kim H ký Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp số 00659167/0057919801T19039 với Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh An Giang - Phòng giao dịch M để vay số tiền 20.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng; lãi suất trong hạn 12%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Quá trình thực hiện hợp đồng do bà H vi phạm nghĩa vụ của bên vay nên Ngân hàng yêu cầu bà H trả số tiền 3.091.435 đồng, trong đó: gốc 2.500.000 đồng và lãi tạm tính đến ngày 22/9/2021 là 591.435 đồng; yêu cầu bà H tiếp tục trả lãi phát sinh cho đến khi thanh toán xong số nợ.
Trong suốt quá trình giải quyết, bà H đều vắng mặt và không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện, các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp cũng như chứng cứ do Tòa án thu thập. Bà H không cung cấp tài liệu, chứng cứ hoặc có yêu cầu phản đối yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, như vậy bà đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ được quy định tại khoản 5 Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Đồng thời, theo Phiếu xác minh ngày 27/5/2021 do Công an phường M cung cấp thì bà Lâm Kim H có đăng ký thường trú tại đường T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, hiện nay đã bán nhà đi đâu làm gì không rõ; việc bà H bán nhà đi nhưng không thông báo cho phía nguyên đơn biết là cố tình giấu địa chỉ theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp số 00659167/0057919801T19039, ngày 01/11/2019 được ký kết giữa bên cho vay Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh An Giang - Phòng giao dịch M với bên vay bà Lâm Kim H và đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn của bà H có xác nhận của Hội liên hiệp phụ nữ phường M để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ về việc yêu cầu bà H có trách nhiệm trả số tiền 3.091.435 đồng, trong đó: gốc 2.500.000 đồng và lãi tạm tính đến ngày 22/9/2021 là 591.435 đồng; bà H còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh cho đến khi thanh toán xong số nợ.
Ngân hàng yêu cầu rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 1.000.000 đồng. Xét thấy, việc rút lại một phần yêu cầu khởi kiện này là tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng về yêu bà H trả số tiền 1.000.000 đồng, bao gồm: vốn 815.385 đồng và lãi 184.615 đồng.
Mặc dù, theo Đề nghị vay vốn ngày 25/10/2019 của bà Lâm Kim H, nếu trường hợp bà H không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì ông Phan Chí H có trách nhiệm trả nợ thay cho bà H đến khi trả dứt nợ cho Ngân hàng. Tuy nhiên, Ngân hàng là người khởi kiện xác định chỉ yêu cầu bà H có trách nhiệm trả nợ, không yêu cầu ông H. Nhận thấy, đây là quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự theo Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử không xét đến.
Về án phí: Bà Lâm Kim H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Ngân hàng TMCP Đ được nhận lại 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002814, ngày 06/5/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố L.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, khoản 2 Điều 244; khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Các Điều 357, 463; 466 và 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng;
- Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ đối với bà Lâm Kim H.
Buộc bà Lâm Kim H có trách nhiệm trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ (do Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh An Giang - Phòng giao dịch M đại diện nhận) số tiền 3.091.435 đồng (ba triệu, không trăm chín mươi mốt nghìn, bốn trăm ba mươi lăm đồng), trong đó: gốc là 2.500.000 đồng (hai triệu, năm trăm nghìn đồng) và lãi tạm tính đến ngày 22/9/2021 là 591.435 đồng (năm trăm chín mươi mốt nghìn, bốn trăm ba mươi lăm đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 22/9/2021) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thanh toán theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp số 00659167/0057919801T19039, ngày 01/11/2019.
- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu buộc bà Lâm Kim H trả số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng).
- Về án phí: Bà Lâm Kim H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Ngân hàng thương mại cổ phần Đ được nhận lại (do Ngân hàng TMCP Đ
- Chi nhánh An Giang - Phòng giao dịch M đại diện nhận thay) số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002814, ngày 06/5/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố L.
Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7; Điều 7a; Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SỞ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND TPL; - TAND tỉnh An Giang; - THADS TPL; - Lưu hồ sơ; - Lưu VP. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thị Chiền |