vanban.org

Bản án 133/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 27/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Tiến Th, Phạm Quang V, Phạm Thế H, Đỗ Phú Q, Nguyễn Khánh U, Ngô Quang Tr, Huỳnh Nhật L, Đỗ Phú Q, Nguyễn Nữ Thuỳ T và Nguyễn Du L phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

[1] Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Huỳnh Tiến Th 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Khánh U và đồng bọn - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Tiến Th, Phạm Quang V, Phạm Thế H, Đỗ Phú Q, Nguyễn Khánh U, Ngô Quang Tr, Huỳnh Nhật L, Đỗ Phú Q, Nguyễn Nữ Thuỳ T và Nguyễn Du L phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 133/2020/HS-ST
Ngày: 27-5-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Đông.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Hạnh

2. Bà Nguyễn Thị Tú Oanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Văn Thị Nguyễn Hiền - Thư ký Tòa án Nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột.

- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Ông Lê Viết Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 121/2020/TLST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 134/2020/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2020 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Khánh U; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 17 tháng 5 năm 1994; Tại: Tỉnh Đắk Lắk; Nơi cư trú: Đường X, phường Th, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hoá: 12/12; Con ông: Nguyễn Thanh L, sinh năm: 1975; Con bà: Nguyễn Thị Kim L, sinh năm: 1966. Bị cáo chưa có chồng, con. Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/01/2020 đến ngày 06/02/2020 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay - Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Nguyễn Du L; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 14 tháng 01 năm 2000; Tại: Tỉnh Đắk Lắk; Nơi cư trú: Đường X, phường Th, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hoá: 12/12; Con ông: Nguyễn Thanh L, sinh năm: 1975; Con bà: Nguyễn Thị Kim L, sinh năm: 1966. Bị cáo chưa có chồng, con. Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/01/2020 đến ngày 06/02/2020 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay - Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: Huỳnh Tiến Th; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 21 tháng 3 năm 1995; Tại: Tỉnh Đắk Lắk; Nơi cư trú: Thôn H, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hoá: 12/12; Con ông: Huỳnh Ngọc Q, sinh năm: 1970; Con bà: Nguyễn Thị Kim T, sinh năm: 1972. Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/01/2020 đến ngày 06/02/2020 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay - Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

4. Họ và tên: Phạm Quang V; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 08 tháng 12 năm 1994; Tại: Tỉnh Đắk Lắk; Nơi cư trú: Đường L, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hoá: 12/12; Con ông: Phạm Bá H, sinh năm: 1967; Con bà: Nguyễn Thị L, sinh năm: 1970. Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/01/2020 đến ngày 06/02/2020 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay - Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

5. Họ và tên: Phạm Thế H; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 19 tháng 3 năm 1994; Tại: Tỉnh Đắk Lắk; Nơi cư trú: Đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hoá: 12/12; Con ông: Phạm Văn T, sinh năm: 1964; Con bà: Nguyễn Thị H, sinh năm: 1965. Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/01/2020 đến ngày 06/02/2020 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay - Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

6. Họ và tên: Đỗ Phú Q; Tên gọi khác: B; Sinh ngày 03 tháng 7 năm 1991; Tại: Tỉnh Đắk Lắk; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Đường L, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Chỗ ở hiện nay: Đường Y, phường Th, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Nghề nghiệp: Nhân viên pha chế; Trình độ văn hoá: 12/12; Con ông: Đỗ Phú Th, sinh năm: 1963; Con bà: Phạm Thị Thu S, sinh năm: 1967. Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/01/2020 đến ngày 06/02/2020 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay - Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

7. Họ và tên: Ngô Quang Tr; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 22 tháng 8 năm 1989; Tại: Tỉnh Đắk Lắk; Nơi cư trú: Đường Tr, phường Th, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ văn hoá: 12/12; Con ông: Ngô Bá Ng, sinh năm: 1961; Con bà: Trương Thị T, sinh năm: 1965. Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/01/2020 đến ngày 06/02/2020 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay - Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

8. Họ và tên: Huỳnh Nhật L; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 19 tháng 11 năm 1994; Tại: Tỉnh Đắk Lắk; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Đường T, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Chỗ ở: Đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ văn hoá: 12/12; Con ông: Huỳnh Xuân T, sinh năm: 1960; Con bà: Trương Thị M, sinh năm: 1966. Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/01/2020 đến ngày 06/02/2020 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay - Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

9. Họ và tên: Đỗ Phú Qu; Tên gọi khác: S; Sinh ngày 28 tháng 6 năm 1994; Tại: Tỉnh Đắk Lắk; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Đường L, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Chỗ ở hiện nay: Đường Y, phường Th, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ văn hoá: 12/12; Con ông: Đỗ Phú Th, sinh năm: 1963; Con bà: Phạm Thị Thu S, sinh năm: 1967. Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/01/2020 đến ngày 06/02/2020 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay - Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

10. Họ và tên: Nguyễn Nữ Thuỳ T; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 03 tháng 12 năm 1994; Tại: Tỉnh Đắk Lắk; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Đường V, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Chỗ ở: Đường T, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ văn hoá: 12/12; Con ông: Nguyễn Văn T, sinh năm: 1959; Con bà: Trương Thị Ng, sinh năm: 1963. Bị cáo chưa có chồng, con. Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/01/2020 đến ngày 06/02/2020 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay - Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Ông Nguyễn Thanh L, sinh năm: 1975;

2. Bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm: 1966;

Cùng trú tại: Đường X, phường Th, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk – Đều có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 13 giờ ngày 28/01/2020, Ngô Quang Tr và Phạm Quang V đến nhà Nguyễn Khánh U, địa chỉ: Đường X, phường Th, thành phố B, để chúc tết. Khi Tr, Quang V đến thì U không có nhà mà chỉ có ông Nguyễn Thanh L và bà Nguyễn Thị Kim L, (là cha mẹ U) ở nhà. Một lúc sau U cùng em gái là Nguyễn Du L về nhà và ngồi chơi nói chuyện với Tr và V, còn ông L, bà L cùng nhau đi ra ngoài chúc tết. Sau đó, Phạm Thế H và Trần Kim V (chưa xác định rõ lai lịch) là bạn của U, đến nhà U chúc tết. Quá trình nói chuyện, Tr, Quang V, U, Du L, Kim V và H cùng rủ nhau đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài Xì lát, thì tất cả đồng ý. U đi mua 02 bộ bài Tú Lơ Khơ (bài Tây, loại 52 lá) về rồi lấy 01 tấm vải màu xanh và 01 chiếc đĩa sứ màu trắng để làm công cụ đánh bạc. Các con bạc thống nhất đánh bạc dưới hình thức đánh bài Xì lát thắng thua bằng tiền theo quy ước mỗi người làm cái 03 ván/01 lần xoay vòng, mức cược mỗi ván từ 10.000 đồng đến 50.000 đồng.

Khi tham gia đánh bạc, U đem theo số tiền 650.000 đồng sử dụng hết để đánh bạc; Du L đem theo số tiền 1.500.000 đồng sử dụng hết để đánh bạc; Tr đem theo số tiền 650.000 đồng sử dụng hết để đánh bạc; H đem theo số tiền 1.390.000 đồng sử dụng hết để đánh bạc; Quang V đem theo số tiền 15.000.000 đồng nhưng chỉ lấy ra số tiền 2.500.000 đồng dùng để đánh bạc. Quang V, Tr, U, Du L, H và Kim V đánh bạc được một lúc thì có Huỳnh Tiến Th, Huỳnh Nhật L cùng đến chúc tết rồi vào tham gia đánh bạc. Khi tham gia đánh bạc Th đem theo số tiền 7.720.000 đồng sử dụng hết để đánh bạc; L đem theo người số tiền 3.100.000 đồng nhưng lấy riêng ra số tiền 600.000 đồng để tham gia đánh bạc. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, có một người phụ nữ tên Nh (chưa xác định lai lịch) đến chúc tết rồi cùng tham gia đánh bạc và rủ đánh bài T lên được thua bằng tiền với hình thức người thua chót sẽ trả tiền 40.000 đồng cho người thắng nhất, người thua kế chót sẽ trả tiền 20.000 đồng cho người thắng nhì thì U, Kim V cùng Th đánh bài Tiến lên với đối tượng Nh được thua bằng tiền. Tr, Quang V, H, L và Du L vẫn tiếp tục đánh bài Xì lát. Đến khoảng hơn 15 giờ cùng ngày, Đỗ Phú Q, Đỗ Phú Q và Nguyễn Nữ Thuỳ T đến chúc tết rồi cùng vào tham gia đánh bạc dưới hình thức đánh bài Xì Lát được thua bằng tiền với Tr, Du L, Hiển, Long và Quang V. Khi tham gia đánh bạc Q đem theo số tiền 1.000.000 đồng sử dụng hết để tham gia đánh bạc; Q đem theo số tiền 500.000 đồng sử dụng hết để tham gia đánh bạc; T đem theo số tiền 480.000 đồng sử dụng hết để tham gia đánh bạc.

Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, Nh có việc về trước, Quang V và Kim V (Chưa xác định lai lịch) cũng nghỉ không đánh bạc nữa, nên U, L, T, Q, Tr, H, L, Th và Q gộp chung lại tiếp tục đánh bạc dưới hình thức đánh bài Xì lát theo quy ước ban đầu. Đến 16 giờ 40 phút cùng ngày, khi U, L, T, Q, Tr, H, L, Th và Q đang đánh bạc thì bị Công an phường Thành Công, thành phố Buôn Ma Thuột, phát hiện bắt quả tang, tạm giữ: Tổng số tiền trên sòng bạc là 13.120.000 đồng; 02 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng; 01 đĩa sứ màu trắng và 01 tấm vải màu xanh. Sau đó chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, để xử lý theo thẩm quyền.

Tạm giữ tài sản của trên người các con bạc gồm: Số tiền 1.390.000 đồng của Phạm Thế H, tạm giữ số tiền 2.500.000 đồng của Huỳnh Nhật L và số tiền 14.740.000 đồng của Phạm Quang V, để xử lý theo quy định của pháp luật.

Hình thức đánh bạc và cách thắng, thua như sau:

Đối với hình thức đánh bài Xì lát được thua bằng tiền: Người chơi sử dụng bộ bài Tú Lơ Khơ (52 quân bài/1 bộ). Các quân bài có ký hiệu, tên gọi và được tính điểm như sau: Từ quân 2 đến 10 được gọi và tính điểm theo số hiển thị trên quân bài, các quân J (gọi là Bồi), Q (gọi là Đầm), K (gọi là Già), A (gọi là Xì). Các quân bài từ J, Q, K được tính 10 điểm. Riêng quân A được tính 10 hoặc 11 điểm, khi người chơi có từ 02 đến 03 quân bài; 01 điểm khi người chơi có từ 04 đến 05 quân bài. Có 04 chất gồm: Bích (ký hiệu là ), Chuồn (ký hiệu là ), Rô (ký hiệu là), Cơ (ký hiệu là), mỗi chất gồm 09 quân bài từ quân 2 đến quân 10 và các quân J, Q, K, A, khi chơi không phân biệt chất nào lớn, chất nào nhỏ. Đầu tiên người chơi đặt tiền cược xuống chiếu bạc (gọi là tụ) rồi người cầm cái chia cho mỗi tụ 02 (quân) bài. Sau đó, người cầm cái đặt phần bài còn lại ở trung tâm chiếu bạc. Người chơi tự cộng điểm trong số quân bài được chia, nếu số điểm nhỏ hơn 16 thì phải bốc thêm bài trong phần bài chia còn dư, nhưng mỗi tụ không được bốc quá 03 (ba) quân bài. Nếu con đủ 16 điểm thì có quyền bốc thêm bài hoặc không (gọi là dằn bài). Khi cái có đủ 15 điểm (của 02 quân bài cộng lại) thì có quyền khui (Mở) các bài của con đã dằn bài để xác định thắng thua với nhau. Cách tính điểm để xác định thắng thua: Lớn nhất là Xì bàn gồm 02 quân A, đến Xì lát gồm quân A và một trong các quân bài từ 10, J, Q, K đến Linh (khi người chơi có 05 quân bài cộng lại không quá 21 điểm), nếu ngũ Linh điểm nhỏ hơn sẽ thắng, khi người chơi có số điểm quá 21 điểm (gọi là ngoác). Nếu nhà cái thắng thì lấy số tiền mà con đã đặt cược và ngược lại cái thua phải chung số tiền bằng số tiền đặt cược, nếu ngang thì hòa.

Đối với hình thức đánh bài Tiến lên được thua bằng tiền: Người chơi sử dụng bộ bài Tú Lơ Khơ (52 quân bài/1 bộ). Các quân bài có ký hiệu và tên gọi như sau: Từ quân 2 đến 10 được gọi và tính điểm theo số hiển thị trên quân bài, các quân J (gọi là Bồi), Q (gọi là Đầm), K (gọi là Già), A (gọi là Xì). Quân bài lớn nhất là quân 2 (hay còn gọi là quân Heo), rồi đến quân A < quân K< quân Q< Quân J< quân 10 trở xuống đến quân 3. Có 04 chất gồm: Bích (ký hiệu là ), Chuồn (ký hiệu là ), Rô (ký hiệu là), Cơ (ký hiệu là), mỗi chất gồm 09 quân bài từ quân 2 đến quân 10 và các quân J, Q, K, A, quá trình chơi quy ước chất Cơ lớn nhất, rồi đến chất Rô, rồi đến chất Chuồn, nhỏ nhất là chất Bích. Đầu tiên người chơi đặt tiền xuống chiếu bạc nhưng không quá 04 người chơi, rồi một người chia bài thứ tự cho từng người theo chiều kim đồng hồ mỗi người 13 quân bài. Cách xếp bài gồm: Bài rác gồm 01 quân bài riêng lẻ; Đôi gồm 02 quân bài cùng giá trị; Ba quân gồm 03 quân bài có cùng giá trị; Tứ quý gồm 04 quân bài có cùng giá trị; Sảnh gồm từ 03 hay nhiều quân bài gộp thành một dãy liên tiếp; Ba đôi thông gồm 06 quân bài gộp thành một dãy liên tiếp của Đôi; Bốn đôi thông gồm 08 quân bài gộp thành một dãy liên tiếp của Đôi. Trong bài tiến lên các quân bài được tăng dần giá trị từ quân 3 đến quân Heo, lá bài càng lớn thì càng giá trị, trong các quân bài có cùng giá trị, quân bài nào có chất lớn hơn thì lớn hơn. Những tập hợp bài cùng loại với nhau thì tập hợp nào có quân bài có giá trị cao nhất lớn hơn thì tập hợp đó lớn hơn; Tập hợp bài cùng loại, lớn hơn dùng để chặn tập hợp bài cùng loại, nhỏ hơn. Quân Heo là quân bài lớn nhất trong bộ bài, tuy nhiên khi chơi có một số tập hợp đặc biệt có thể chặn được quân Heo gồm: Ba đôi thông có thể chặn được 01 quân Heo và Ba đôi thông nhỏ hơn; Tứ quý chặn được 01 quân Heo, 01 Đôi Heo, Tứ quý nhỏ hơn hoặc Ba đôi thông; Bốn đôi thông chặn được 01 quân Heo, 01 Đôi Heo, Bốn đôi thông nhỏ hơn, Tứ quý và Ba đôi thông. Các trường hợp thắng không cần đánh (Tới trắng) gồm: Bài có Tứ quý Heo; Bài có 06 Đôi; Bài có Sảnh 12 quân bài; bài có 12 quân đen (chất Bích và chất Chuồn) hoặc bài có 12 quân đỏ (chất Cơ và chất Rô). Ván đầu tiên người có quân 3 Bích đánh trước, từ các ván sau người nào về nhất được đánh trước, đánh lần lượt theo chiều kim đồng hồ, không được chen lượt (trừ trường hợp có Bốn đôi thông chặt quân Heo), ai không có bài đánh thì bỏ lượt. Người nào đánh hết bài đầu tiên về Nhất, người đánh hết bài thứ hai về Nhì, người đánh hết bài thứ ba về Ba, ai còn bài về Bét. Nếu khi đánh hết bài mà người chơi còn lại quân Heo thì bị thối Heo.

Tại cơ quan điều tra các bị cáo khai nhận như sau:

- Nguyễn Khánh U, khai: Khoảng 13 giờ ngày 28/01/2020 Ngô Quang Tr, Phạm Quang V, Phạm Thế H và Trần Kim V đến nhà Nguyễn Khánh U, Nguyễn Du L, địa chỉ: Đường X, phường Th, thành phố B, để chúc tết. Sau đó Tr, Quang V, H, Kim V, Du L và U cùng rủ nhau chơi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh xì lát, thì tất cả đồng ý. U đi mua 02 bộ bài Tú Lơ Khơ (bài Tây, loại 52 lá) về rồi lấy 01 tấm vải màu xanh và 01 chiếc đĩa sứ màu trắng để làm công cụ đánh bạc. Các con bạc quy ước mỗi người làm cái 03 ván/01 lần xoay vòng, mức cược mỗi ván từ 10.000 đồng đến 50.000 đồng. Khi tham gia đánh bạc, U đem theo số tiền 650.000 đồng sử dụng hết để đánh bạc. Tr, Quang V, H, Kim V, Du L và U đánh bạc được một lúc thì có Huỳnh Tiến Th, Huỳnh Nhật L đến nhà U, Du L chúc tết sau đó cùng tham gia đánh bạc. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày Nh đến nhà U, Du L chúc tết, lúc này các con bạc chia làm hai sòng để chơi đánh bạc. Quang V, Nh, Th và U đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh tiến lên, quy ước đánh bạc người thua chót sẽ trả 40.000 đồng cho người thắng nhất, người thua kế chót sẽ trả 20.000 đồng cho người thắng nhì. Tr, Kim V, H, L và Du L tiếp tục đánh xì lát, quy ước đánh bạc như cũ. Do có công việc nên Du L nghỉ chơi đánh bạc đi ra ngoài. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, Du L về nhà tiếp tục đánh xì lát, lúc này có Đỗ Phú Q, Đỗ Phú Q và Nguyễn Nữ Thuỳ T đến chúc tết thấy đang đánh bạc thì cùng tham gia đánh xì lát. Một lúc sau, Nh và Kim V nghỉ không chơi đánh bạc đi về trước. Lúc này U, Th, Tr, H, L, Q, Q, T và Du L tiếp tục đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức đánh xì lát, Quang V ngồi ngoài xem. Đến khoảng 16 giờ 40 phút cùng ngày khi U, Th, Tr, H, L, Q, Q, T và Du L, đang đánh bạc được thua bằng tiền thì bị Công an phường Thành Công, phát hiện bắt quả tang. Thu giữ số tiền đánh bạc của U là 750.000 đồng, quá trình đánh bạc U thắng số tiền 100.000 đồng.

- Nguyễn Du L, khai: Khoảng 13 giờ ngày 28/01/2020 Ngô Quang Tr, Phạm Quang V, Phạm Thế H và Trần Kim V đến nhà Nguyễn Khánh U, Nguyễn Du L, địa chỉ: Đường X, phường Th, thành phố B, để chúc tết. Sau đó Tr, Quang V, H, Kim V, Du L và U cùng rủ nhau chơi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh xì lát, thì tất cả đồng ý. U đi mua 02 bộ bài Tú Lơ Khơ (bài Tây, loại 52 lá) về rồi lấy 01 tấm vải màu xanh và 01 chiếc đĩa sứ màu trắng để làm công cụ đánh bạc. Các con bạc quy ước mỗi người làm cái 03 ván/01 lần xoay vòng, mức cược mỗi ván từ 10.000 đồng đến 50.000 đồng. Du L sử dụng hết số tiền 1.500.000 đồng để đánh bạc. Tr, Quang V, H, Kim V, Du L và U đánh bạc được một lúc thì có Huỳnh Tiến Th, Huỳnh Nhật L đến nhà U, Du L chúc tết sau đó cùng tham gia đánh bạc. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày Nh đến nhà U, Du L chúc tết, lúc này các con bạc chia làm hai sòng để chơi đánh bạc. Quang V, Nh, Th và U đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh tiến lên, quy ước đánh bạc người thua chót sẽ trả 40.000 đồng cho người thắng nhất, người thua kế chót sẽ trả 20.000 đồng cho người thắng nhì. Tr, Kim V, H, L và Du L tiếp tục đánh xì lát, quy ước đánh bạc như cũ. Do có công việc nên Du L nghỉ chơi đánh bạc đi ra ngoài. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, Du L về nhà tiếp tục đánh xì lát, lúc này có Đỗ Phú Q, Đỗ Phú Q và Nguyễn Nữ Thuỳ T đến chúc tết thấy đang đánh bạc thì cùng tham gia đánh xì lát. Một lúc sau, Nh và Kim V nghỉ không chơi đánh bạc đi về trước. Lúc này U, Th, Tr, H, L, Q, Q, T và Du L tiếp tục đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức đánh xì lát, Quang V ngồi ngoài xem. Đến khoảng 16 giờ 40 phút cùng ngày khi U, Th, Tr, H, L, Q, Q, T và Du L, đang đánh bạc được thua bằng tiền thì bị Công an phường Thành Công, phát hiện bắt quả tang. Thu giữ số tiền đánh bạc của Du L là 540.000 đồng, quá trình đánh bạc Du L thua số tiền 960.000 đồng.

- Nguyễn Nữ Thuỳ T, khai: Khoảng 15 giờ Nguyễn Nữ Thuỳ T, Đỗ Phú Q và Đỗ Phú Q đến nhà Nguyễn Khánh U, địa chỉ: Đường X, phường Th, thành phố B, để chúc tết. T, Q và Q thấy Nguyễn Du L, Nguyễn Khánh U, Ngô Quang Tr, Phạm Quang V, Phạm Thế H, Huỳnh Nhật L, Huỳnh Tiến Th, Trần Kim V và Nh đang đánh bạc được thua bằng tiền thì cùng tham gia chơi đánh bạc. T mang theo số tiền 480.000 đồng dùng hết để đánh bạc. Đến khoảng 16 giờ 40 phút cùng ngày khi U, Th, Tr, H, L, Q, Q, T và Du L, đang đánh bạc được thua bằng tiền thì bị Công an phường Thành Công, phát hiện bắt quả tang. Thu giữ số tiền đánh bạc của T là 530.000 đồng, quá trình đánh bạc T thắng số tiền 50.000 đồng.

- Ngô Quang Tr, khai: Khoảng 13 giờ ngày 28/01/2020 Ngô Quang Tr đến nhà Nguyễn Khánh U, Nguyễn Du L, địa chỉ: Đường X, phường Th, thành phố B, để chúc tết. Sau đó Phạm Quang V, Phạm Thế H và Trần Kim V đến nhà U chúc tết. Tại đây Tr, Quang V, H, Kim V, Du L và U cùng rủ nhau chơi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh xì lát, thì tất cả đồng ý. Tr dùng hết số tiền 650.000 đồng để đánh bạc. Tr, Quang V, H, Kim V, Du L và U đánh bạc được một lúc thì có Huỳnh Tiến Th, Huỳnh Nhật L đến nhà U, Du L chúc tết sau đó cùng tham gia đánh bạc. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày Nh đến nhà U, Du L chúc tết, lúc này các con bạc chia làm hai sòng để chơi đánh bạc. Quang V, Nh, Th và U đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh tiến lên. Tr, Kim V, H, L và Du L tiếp tục đánh xì lát. Do có công việc nên Du L nghỉ chơi đánh bạc đi ra ngoài. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, Du L về nhà tiếp tục đánh xì lát, lúc này có Đỗ Phú Q, Đỗ Phú Q và Nguyễn Nữ Thuỳ T đến chúc tết thấy đang đánh bạc thì cùng tham gia đánh xì lát. Một lúc sau, Nh và Kim V nghỉ không chơi đánh bạc đi về trước. Lúc này U, Th, Tr, H, L, Q, Q, T và Du L tiếp tục đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức đánh xì lát, Quang V ngồi ngoài xem. Đến khoảng 16 giờ 40 phút cùng ngày khi U, Th, Tr, H, L, Q, Q, T và Du L, đang đánh bạc được thua bằng tiền thì bị Công an phường Thành Công, phát hiện bắt quả tang. Thu giữ số tiền đánh bạc của Tr là 920.000 đồng, quá trình đánh bạc Tr thắng số tiền 270.000 đồng.

- Đỗ Phú Q, khai: Khoảng 15 giờ Đỗ Phú Q, Nguyễn Nữ Thuỳ T và Đỗ Phú Q đến nhà Nguyễn Khánh U, địa chỉ: Đường X, phường Th, thành phố B, để chúc tết. T, Q và Q thấy Nguyễn Du L, Nguyễn Khánh U, Ngô Quang Tr, Phạm Quang V, Phạm Thế H, Huỳnh Nhật L, Huỳnh Tiến Th, Trần Kim V và Nh đang đánh bạc được thua bằng tiền thì cùng tham gia chơi đánh bạc. Q mang theo số tiền 500.000 đồng dùng hết để đánh bạc. Đến khoảng 16 giờ 40 phút cùng ngày khi U, Th, Tr, H, L, Q, Q, T và Du L, đang đánh bạc được thua bằng tiền thì bị Công an phường Thành Công, phát hiện bắt quả tang. Thu giữ số tiền đánh bạc của Q là 550.000 đồng, quá trình đánh bạc Q thắng số tiền 50.000 đồng.

- Phạm Thế H, khai: Khoảng 13 giờ ngày 28/01/2020 Phạm Thế H đến nhà Nguyễn Khánh U, địa chỉ: Đường X, phường Th, thành phố B, để chúc tết thì thấy Phạm Quang V, Ngô Quang Tr và Trần Kim V ở nhà U. Tại đây Tr, Quang V, H, Kim V, Du L và U cùng rủ nhau chơi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh xì lát, thì tất cả đồng ý. H dùng hết số tiền 1.390.000 đồng để đánh bạc. Tr, Quang V, H, Kim V, Du L và U đánh bạc được một lúc thì có Huỳnh Tiến Th, Huỳnh Nhật L đến nhà U, Du L chúc tết sau đó cùng tham gia đánh bạc. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày Nh đến nhà U, Du L chúc tết, lúc này các con bạc chia làm hai sòng để chơi đánh bạc. Quang V, Nh, Th và U đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh tiến lên. Tr, Kim V, H, L và Du L tiếp tục đánh xì lát. Do có công việc nên Du L nghỉ chơi đánh bạc đi ra ngoài. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, Du L về nhà tiếp tục đánh xì lát, lúc này có Đỗ Phú Q, Đỗ Phú Q và Nguyễn Nữ Thuỳ T đến chúc tết thấy đang đánh bạc thì cùng tham gia đánh xì lát. Một lúc sau, Nh và Kim V nghỉ không chơi đánh bạc đi về trước. Lúc này U, Th, Tr, H, L, Q, Q, T và Du L tiếp tục đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức đánh xì lát, Quang V ngồi ngoài xem. Đến khoảng 16 giờ 40 phút cùng ngày khi U, Th, Tr, H, L, Q, Q, T và Du L, đang đánh bạc được thua bằng tiền thì bị Công an phường Thành Công, phát hiện bắt quả tang. Quá trình đánh bạc H thắng số tiền 170.000 đồng. Tạm giữ trên người H số tiền 1.390.000 đồng dùng vào việc đánh bạc

- Huỳnh Nhật L, khai: Khoảng 14 giờ ngày 28/01/2020, Huỳnh Nhật L, Huỳnh Tiến Th đến nhà Nguyễn Khánh U, địa chỉ: Đường X, phường Th, thành phố B, để chúc tết. L thấy Nguyễn Khánh U, Nguyễn Du L, Ngô Quang Tr, Phạm Quang V, Phạm Thế H, Trần Kim V đang chơi đánh bạc thì L, Th cùng vào tham gia chơi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh xì lát. Khi đi L mang theo số tiền 3.100.000 đồng, L lấy ra 600.000 đồng dùng hết để đánh bạc. Sau đó Nh đến nhà U, Du L chúc tết, lúc này các con bạc chia làm hai sòng để chơi đánh bạc. Quang V, Nh, Th và U đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh tiến lên. Tr, Kim V, H, L và Du L tiếp tục đánh xì lát. Do có công việc nên Du L nghỉ chơi đánh bạc đi ra ngoài. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, Du L về nhà tiếp tục đánh xì lát, lúc này có Đỗ Phú Q, Đỗ Phú Q và Nguyễn Nữ Thuỳ T đến chúc tết thấy đang đánh bạc thì cùng tham gia đánh xì lát. Một lúc sau, Nh và Kim V nghỉ không chơi đánh bạc đi về trước. Lúc này U, Th, Tr, H, L, Q, Q, T và Du L tiếp tục đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức đánh xì lát, Quang V ngồi ngoài xem. Đến khoảng 16 giờ 40 phút cùng ngày khi U, Th, Tr, H, L, Q, Q, T và Du L, đang đánh bạc được thua bằng tiền thì bị Công an phường Thành Công, phát hiện bắt quả tang. Thu giữ số tiền đánh bạc của L là 1.520.000 đồng, quá trình đánh bạc L thắng số tiền 920.000 đồng. Tạm giữ trên người L số tiền 2.500.000 đồng không dùng vào việc đánh bạc.

- Huỳnh Tiến Th, khai: Khoảng 14 giờ ngày 28/01/2020, Huỳnh Tiến Th, Huỳnh Nhật L, đến nhà Nguyễn Khánh U, địa chỉ: Đường X, phường Th, thành phố B, để chúc tết. Th thấy Nguyễn Khánh U, Nguyễn Du L, Ngô Quang Tr, Phạm Quang V, Phạm Thế H, Trần Kim V đang chơi đánh bạc thì L, Th cùng vào tham gia chơi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh xì lát. Khi đi Th mang theo số tiền 7.720.000 đồng dùng hết để đánh bạc. Sau đó Nh đến nhà U, Du L chúc tết, lúc này các con bạc chia làm hai sòng để chơi đánh bạc. Quang V, Nh, Th và U đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh tiến lên. Tr, Kim V, H, L và Du L tiếp tục đánh xì lát. Do có công việc nên Du L nghỉ chơi đánh bạc đi ra ngoài. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, Du L về nhà tiếp tục đánh xì lát, lúc này có Đỗ Phú Q, Đỗ Phú Q và Nguyễn Nữ Thuỳ T đến chúc tết thấy đang đánh bạc thì cùng tham gia đánh xì lát. Một lúc sau, Nh và Kim V nghỉ không chơi đánh bạc đi về trước. Lúc này U, Th, Tr, H, L, Q, Q, T và Du L tiếp tục đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức đánh xì lát, Quang V ngồi ngoài xem. Đến khoảng 16 giờ 40 phút cùng ngày khi U, Th, Tr, H, L, Q, Q, T và Du L, đang đánh bạc được thua bằng tiền thì bị Công an phường Thành Công, phát hiện bắt quả tang. Thu giữ số tiền đánh bạc của Th là 7.480.000 đồng, quá trình đánh bạc Th thua số tiền 240.000 đồng.

- Đỗ Phú Q, khai: Khoảng 15 giờ Đỗ Phú Q, Đỗ Phú Q và Nguyễn Nữ Thuỳ T đến nhà Nguyễn Khánh U, địa chỉ: Đường X, phường Th, thành phố B, để chúc tết. Qu, Q và T thấy Nguyễn Du L, Nguyễn Khánh U, Ngô Quang Tr, Phạm Quang V, Phạm Thế H, Huỳnh Nhật L, Huỳnh Tiến Th, Trần Kim V và Nh đang đánh bạc được thua bằng tiền thì cùng tham gia chơi đánh bạc. Qu mang theo số tiền 1.000.000 đồng dùng hết để đánh bạc. Đến khoảng 16 giờ 40 phút cùng ngày khi U, Th, Tr, H, L, Q, Q, T và Du L, đang đánh bạc được thua bằng tiền thì bị Công an phường Thành Công, phát hiện bắt quả tang. Thu giữ số tiền đánh bạc của Q là 660.000 đồng, quá trình đánh bạc Q thua số tiền 340.000 đồng.

- Phạm Quang V, khai: Khoảng 13 giờ ngày 28/01/2020 Phạm Quang V đến nhà Nguyễn Khánh U, địa chỉ: Đường X, phường Th, thành phố B, để chúc tết. Tại đây Quang V gặp Ngô Quang Tr, Phạm Thế H và Trần Kim V cũng đến nhà U chúc tết. Sau đó Tr, Quang V, H, Kim V, Du L và U cùng rủ nhau chơi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh xì lát, thì tất cả đồng ý. Khi đi chúc tết Quang V mang theo số tiền 15.000.000 đồng, Quang V lấy ra số tiền 2.500.000 đồng dùng để đánh bạc. Tr, Quang V, H, Kim V, Du L và U đánh bạc được một lúc thì có Huỳnh Tiến Th, Huỳnh Nhật L đến nhà U, Du L chúc tết sau đó cùng tham gia đánh bạc. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày Nh đến nhà U, Du L chúc tết, lúc này các con bạc chia làm hai sòng để chơi đánh bạc. Quang V, Nh, Th và U đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh tiến lên. Tr, Kim V, H, L và Du L tiếp tục đánh xì lát. Do có công việc nên Du L nghỉ chơi đánh bạc đi ra ngoài. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, Du L về nhà tiếp tục đánh xì lát, lúc này có Đỗ Phú Q, Đỗ Phú Q và Nguyễn Nữ Thuỳ T đến chúc tết thấy đang đánh bạc thì cùng tham gia đánh xì lát. Một lúc sau, Nh và Kim V nghỉ không chơi đánh bạc đi về trước. Lúc này U, Th, Tr, H, L, Q, Q, T và Du L tiếp tục đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức đánh xì lát, Quang V ngồi ngoài xem, quá trình đánh bạc Quang V thua số tiền 260.000 đồng. Đến khoảng 16 giờ 40 phút cùng ngày khi U, Th, Tr, H, L, Q, Q, T và Du L, đang đánh bạc được thua bằng tiền thì bị Công an phường Thành Công, phát hiện bắt quả tang. Ngày 28/01/2020 Phạm Quang V tự nguyện giao nộp số tiền 14.740.000 đồng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, để phục vụ công tác điều tra.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, các bị cáo Nguyễn Du L, Nguyễn Khánh U, Nguyễn Nữ Thuỳ T, Ngô Quang Tr, Phạm Thế H, Huỳnh Nhật L, Huỳnh Tiến Th, Đỗ Phú Q, Đỗ Phú Q và Phạm Quang V, đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản Cáo trạng số: 131/CT-VKSTPBMT ngày 28 tháng 4 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk truy tố các bị cáo Nguyễn Du L, Nguyễn Khánh U, Nguyễn Nữ Thuỳ T, Ngô Quang Tr, Phạm Thế H, Huỳnh Nhật L, Huỳnh Tiến Th, Đỗ Phú Q, Đỗ Phú Q và Phạm Quang V về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Du L, Nguyễn Khánh U, Nguyễn Nữ Thuỳ T, Ngô Quang Tr, Phạm Thế H, Huỳnh Nhật L, Huỳnh Tiến Th, Đỗ Phú Q, Đỗ Phú Q và Phạm Quang V hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và Bản cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát đã công bố.

Quá trình tranh luận, đại diện Viện kiểm sát thành phố Buôn Ma Thuột đã đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của các bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Du L, Nguyễn Khánh U, Nguyễn Nữ Thuỳ T, Ngô Quang Tr, Phạm Thế H, Huỳnh Nhật L, Huỳnh Tiến Th, Đỗ Phú Q, Đỗ Phú Q và Phạm Quang V phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Khánh U mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; khoản 1 Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Du L số tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Huỳnh Tiến Th mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Quang V mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Thế H mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Đỗ Phú Q mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Ngô Quang Tr mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Huỳnh Nhật L mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Đỗ Phú Q mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Nữ Thùy T mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng.

Xử lý vật chứng: Áp dụng các Điều 46, Điều 47, Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

- Tịch thu tiêu huỷ: 02 bộ bài Tú Lơ Khơ (bài Tây, loại 52 lá), 01 tấm vải màu xanh và 01 chiếc đĩa sứ màu trắng, là công cụ các bị cáo dùng vào việc đánh bạc trái phép.

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: Số tiền 16.750.000 đồng (trong đó: Tiền bắt quả tang tại sòng bạc: 13.120.000 đồng; tạm giữ trên người Phạm Thế H số tiền 1.390.000 đồng và Phạm Quang V giao nộp là 2.240.000 đồng), là tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền.

- Trả lại số tiền 2.500.000 đồng cho bị cáo Huỳnh Nhật L và số tiền 12.500.000 đồng cho bị cáo Phạm Quang V, nhận quả lý sử dụng nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.

Các bị cáo Nguyễn Du L, Nguyễn Khánh U, Nguyễn Nữ Thuỳ T, Ngô Quang Tr, Phạm Thế H, Huỳnh Nhật L, Huỳnh Tiến Th, Đỗ Phú Q, Đỗ Phú Q và Phạm Quang V không bào chữa, tham gia tranh luận gì. Các bị cáo Nguyễn Du L, Nguyễn Khánh U, Nguyễn Nữ Thuỳ T, Ngô Quang Tr, Phạm Thế H, Huỳnh Nhật L, Huỳnh Tiến Th, Đỗ Phú Q, Đỗ Phú Q và Phạm Quang V xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và cho các bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật.

Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Do ý thức coi thường pháp luật nên vào khoảng 13 giờ ngày 28/01/2020 tại địa chỉ: Đường X, phường Th, thành phố B, các bị cáo Nguyễn Du L, Nguyễn Khánh U, Nguyễn Nữ Thuỳ T, Ngô Quang Tr, Phạm Thế H, Huỳnh Nhật L, Huỳnh Tiến Th, Đỗ Phú Q, Đỗ Phú Q và Phạm Quang V, đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền dưới hình thức đánh tiến lên và xì lát, thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, phát hiện xử lý. Xác định tổng số tiền các bị cáo dùng đánh bạc trái phép là 16.750.000 đồng. Hành vi của các bị cáo Nguyễn Du L, Nguyễn Khánh U, Nguyễn Nữ Thuỳ T, Ngô Quang Tr, Phạm Thế H, Huỳnh Nhật L, Huỳnh Tiến Th, Đỗ Phú Q, Đỗ Phú Q và Phạm Quang V là phạm tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Như vậy, Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, đúng người đúng tội.

Xét tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng; đồng thời còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương. Các bị cáo đều là những công dân có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, buộc các bị cáo phải nhận thức được rằng mọi hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị dưới mọi hình thức là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm. Song do ý thức coi thường pháp luật, các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, cần phải áp dụng một mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra thì mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung đấu tranh chống tội phạm.

Trong vụ án này có nhiều bị cáo cùng tham gia thực hiện hành vi phạm tội nhưng các bị cáo không có sự phân công vai trò cụ thể, phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn. Tuy nhiên, số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là khác nhau nên mức hình phạt được áp dụng đối với các bị cáo cũng có phần khác nhau.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Sau khi phạm tội tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt nhằm thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước. Đối với bị cáo Huỳnh Nhật L có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự nên áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo.

Xét các bị cáo Nguyễn Khánh U, Nguyễn Nữ Thuỳ T, Ngô Quang Tr, Phạm Thế H, Huỳnh Nhật L, Huỳnh Tiến Th, Đỗ Phú Q, Đỗ Phú Q, Phạm Quang V, Nguyễn Du L là người có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà cho tự cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương, phạt tiền cũng đủ tác dụng giáo dục và tạo điều kiện để các bị cáo có cơ hội phấn đấu trở thành công dân có ích cho xã hội.

Đối với căn phòng thuộc nhà đường X, phường Th, thành phố B, các bị cáo đã sử dụng để làm địa điểm đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền, là tài sản thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Thanh L và bà Nguyễn Thị Kim L. Ông L, bà L không biết và không hưởng lợi từ việc các bị cáo đánh bạc, nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý, là phù hợp.

Đối với các đối tượng Trần Kim V và Nh, có hành vi đánh bạc cùng với các bị cáo, sau đó nghỉ đánh bạc về trước, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân lai lịch, địa chỉ cụ thể, nên chưa triệu tập làm việc được. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tách hành vi của Trần Kim V và Nh ra khỏi vụ án, tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau là phù hợp.

Đối với số tiền 2.500.000 đồng của bị cáo Huỳnh Nhật L và số tiền 12.500.000 đồng của bị cáo Phạm Quang V, là tiền các bị cáo không sử dụng để đánh bạc, nên trả lại cho các bị cáp Huỳnh Nhật L, Phạm Quang V, nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với tổng số tiền 16.750.000 đồng (trong đó: Tiền bắt quả tang tại sòng bạc: 13.120.000 đồng; tạm giữ trên người Phạm Thế H số tiền 1.390.000 đồng và Phạm Quang V giao nộp là 2.240.000 đồng). Đây là tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền. Do vậy cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

- Đối với 02 bộ bài Tú Lơ Khơ (bài Tây, loại 52 lá), 01 tấm vải màu xanh và 01 chiếc đĩa sứ màu trắng, là công cụ các bị cáo dùng vào việc đánh bạc trái phép. Do vậy cần tịch thu tiêu huỷ, là phù hợp.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Tiến Th, Phạm Quang V, Phạm Thế H, Đỗ Phú Q, Nguyễn Khánh U, Ngô Quang Tr, Huỳnh Nhật L, Đỗ Phú Q, Nguyễn Nữ Thuỳ T và Nguyễn Du L phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

[1] Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Tiến Th 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Huỳnh Tiến Th cho UBND xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

[2] Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Quang V 01 (một) năm tù. nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Phạm Quang V cho UBND phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

[3] Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Thế H 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm 06 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Phạm Thế H cho UBND phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

[4] Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Đỗ Phú Q 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm 06 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Đỗ Phú Q cho xã UBND phường Th, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

[5] Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Khánh U 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Khánh U cho UBND phường Th, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

[6] Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Ngô Quang Tr 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Ngô Quang Tr cho UBND phường Th, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

[7] Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Nhật L 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Huỳnh Nhật L cho UBND phường Th, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

[8] Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Đỗ Phú Q 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Đỗ Phú Q cho UBND phường Th, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

[9] Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Nữ Thuỳ T 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Nữ Thuỳ T cho UBND phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

[10] Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Du L 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).

[11] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46 Bộ Luật hình sự; Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước tổng số tiền 16.750.000 đồng (trong đó: Tiền bắt quả tang tại sòng bạc: 13.120.000 đồng; tạm giữ trên người Phạm Thế H số tiền 1.390.000 đồng và Phạm Quang V giao nộp là 2.240.000 đồng).

- Tịch thu tiêu huỷ 02 bộ bài Tú Lơ Khơ (bài Tây, loại 52 lá); 01 tấm vải màu xanh và 01 chiếc đĩa sứ màu trắng, là công cụ các bị cáo dùng vào việc đánh bạc trái phép.

- Trả lại số tiền 2.500.000 đồng cho bị cáo Huỳnh Nhật L và số tiền 12.500.000 đồng cho bị cáo Phạm Quang V, nhận quả lý sử dụng nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.

(Vật chứng có đặc điểm và số lượng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 29 tháng 4 năm 2020 giữa Công an thành phố Buôn Ma Thuột và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B).

[11] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Huỳnh Tiến Th, Phạm Quang V, Phạm Thế H, Đỗ Phú Q, Nguyễn Khánh U, Ngô Quang Tr, Huỳnh Nhật L, Đỗ Phú Q, Nguyễn Nữ Thuỳ T và Nguyễn Du L mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ