vanban.org

Bản án 133/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La Tuyên án 14/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo: Lò Thị D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt: Lò Thị D 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 31/7/2019. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "LÒ THỊ D - TTTPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Lò Thị D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG MÃ
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 133/2019/HSST
Ngày 14 tháng 11 năm 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lô Văn Long

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Quàng Văn Tiện và ông Trần Thành Vân

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Nhung là Thư ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên toà: Ông Dương Văn Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2019 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Sông Mã, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 133/2019/HSST ngày 30 tháng 10 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 126/2019/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:

Lò Thị D, sinh năm 1987, tại huyện S M, tỉnh Sơn La

Trú tại: Bản C, xã Ch C, huyện S M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: không biết chữ; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt nam; Con ông Lò Văn H (đã chết) và bà Lò Thị S; Bị cáo chưa có chồng, con.

Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tốt; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/7/2019 cho đến nay; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 09 giờ 00 phút, ngày 31 tháng 7 năm 2019, tổ công tác Công an huyện Sông Mã phối hợp với Ban công an xã Chiềng Khương làm nhiệm vụ tại bản Híp, xã Chiềng Khương, huyện Sông Mã đã phát hiện, bắt quả tang Lò Thị D đang có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ: Thu tại túi quần bên trái của D 01 gói nilon màu hồng bên trong có chứa 12 viên nén mầu hồng. D khai nhận là hồng phiến.

Ngày 02/8/2019 tại Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng, trích mẫu giám định, kết quả: 12 viên nén mầu hồng thu giữ của D có tổng khối lượng là 1,12 gam; trích 05 viên có tổng khối lượng 0,47 gam làm mẫu gửi giám định, ký hiệu D; Còn lại 07 viên có tổng khối lượng 0,65 gam, ký hiệu D1.

Kết luận giám định số 1360 ngày 07/8/2019 của Phòng KTHS - Công an tỉnh Sơn La, kết luận: "Mẫu gửi giám định ký hiệu D là ma túy, loại Methamphetamine; Tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,47 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 1,12 gam, loại Methamphetamine".

Quá trình điều tra Lò Thị D khai nhận hành vi phạm tội như sau:

D là đối tượng có sử dụng ma túy từ năm 2017. Khoảng 16 giờ ngày 29/7/2019, D đang đi chơi ở bản Híp, xã Chiềng Khương có gọi điện thoại cho một người đàn ông tên là Tộ nhà ở xã Chiềng Khương hỏi mua hồng phiến với giá 250.000đ, người đàn ông tên Tộ nhất trí và hẹn gặp D tại khu vực suối bản Híp, xã Chiềng Khương. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày D đi bộ đến điểm hẹn và thấy Tộ đã chờ sẵn, Diên đưa cho người tên Tộ 250.000đ và được người đàn ông này đưa cho D 1 gói ni lon màu hồng bên trong có 12 viên hồng phiến, D nhận hồng phiến và cất ở túi quần bên trái, còn điện thoại di động thì cất ở túi quần bên phải. Trao đổi mua bán ma túy xong D đi bộ ra đường quốc lộ 4G và bắt xe đi về nhà ở xã Chiềng Cang. Sau khi về đến nhà D phát hiện đã bị mất điện thoại di động nên đến ngày 31/7/2019 Diên mang theo 12 viên hồng phiến đi xuống xã Chiềng Khương, khi đang đi bộ tại khu vực bản Híp, xã Chiềng Khương thì bị phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Bản Cáo trạng số: 134/CT-VKSSM ngày 30/10/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Sông Mã để xét xử bị cáo Lò Thị D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Lò Thị D đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật viện dẫn áp dụng như nội dung bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Lò Thị D phạm tội: Tàng trứ trái phép chất ma túy

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Lò Thị D từ 24 đến 28 tháng tù;

Đề nghị Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo;

Về xử lý vật chứng và án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Lò Thị D không có ý kiến gì đối đáp với lời luận tội của Kiểm sát viên, chỉ xin được giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra và kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cở sở xem xét đầy đủ và toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Sông Mã, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Diễn biến tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lò Thị D khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; Phù hợp với các chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 09 giờ 10 phút, ngày 31/7/2019 đối với Lò Thị D, vật chứng của vụ án là chất ma túy loại Methamphetamine, kết luận giám định, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Ngày 31/7/2019 Lò Thị D đang tàng trữ chất ma tuý là 12 viên nén màu hồng, loại Methamphetamine có khối lượng 1,12 gam, mục đích để sử dụng thì bị phát hiện và bị bắt quả tang.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Đối chiếu với các điều luật tương ứng do Bộ luật Hình sự quy định, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lò Thị D đã phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tù từ một năm đến năm năm. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai.

Đánh giá tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã vi phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương nên cần xử lý nghiêm.

Đánh giá về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt thể hiện việc bị cáo không có tiền án, tiền sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Để trừng trị đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội, cũng như công tác đấu tranh phòng chống tội phạm về ma túy, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định mới đảm bảo cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung là phạt tiền: Hội đồng xét xử thấy bị cáo không có tài sản gì nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về các tình tiết, đối tượng có liên quan:

Đối với nguồn gốc 12 viên hồng phiến thu giữ trong vụ án bị cáo D khai mua của người đàn ông tên là Tộ ở xã Chiềng Khương, ngoài lời khai của bị cáo không còn căn cứ nào khác nên không điều tra mở rộng vụ án là có căn cứ.

Về xử lý vật chứng: Vật chứng đang bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Sông Mã gồm: 0,65 gam ma túy, loại Methamphetamine; 01 mảnh túi ni lon màu hồng; 01 vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở là vật Nhà nước cấm lưu hành và những vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo Lò Thị D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố bị cáo: Lò Thị D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt: Lò Thị D 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 31/7/2019.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Áp dụng c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu để tiêu huỷ: 0,65 gam ma túy, loại Methamphetamine; 01 mảnh túi ni lon màu hồng; 01 vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản lập hồi 08 giờ 45 phút ngày 31 tháng 10 năm 2019 giữa Công an huyện Sông Mã và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Mã.

3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ Ban Thường Vụ Quốc hội. Bị cáo Lò Thị D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

4. Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ