- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Hoàng V (2bc) - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Hoàng V và Nguyễn Thúy K.
- Căn cứ chính? Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 133/2019/HS-PT Ngày: 19-11-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trinh.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thụy Vũ.
Ông Nguyễn Hoàng Quí.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Cần - thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Thư - Kiểm sát viên.
Trong ngày 19-11-2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ, xét xử phúc thẩm công khai, vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 172/2019/TLPT-HS ngày 25-10-2019, đối với các bị cáo Lê Hoàng V và Nguyễn Thúy K, do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 75/2019/HSST ngày 18 tháng 9 năm 2019 của Tòa án nhân dân quận B.
- Bị cáo kháng cáo:
1. Lê Hoàng V; sinh ngày 28 tháng 3 năm 1990, tại thành phố Cần Thơ. Nơi cư trú: Trần Phú, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ. Nghề nghiệp: Lái xe ôtô; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Hoàng Lvà bà: Lê Thị Hồng N; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
2. Nguyễn Thúy K; sinh ngày 15 tháng 6 năm 1987.
Nơi cư trú: khóm 4, phường T, thị xã B, tỉnh V. Nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Đình L và bà: Huỳnh Ngọc N; có chồng: Lê Hậu G và 2 con: Lớn sinh năm 2007 - nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo K:
Luật sư Phan Hữu T - Đoàn Luật sư tỉnh V.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án không có kháng cáo.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau.
Khoảng 11 giờ ngày 31-1-2019, Công an quận B đã phát hiện nhóm đánh bạc thắng thua bằng tiền, dưới hình thức “Bài binh xập xàm”, tại quán cà phê, khu vực B, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ. Những người tham gia, gồm: Lê Hoàng V, Lê Võ Hoàng V, Trần Văn D và Nguyễn Thanh C. Do không đủ điều kiện để khởi tố nên Công an quận B đã tiến hành xử phạt hành chính.
Khi kiểm tra điện thoại di động Iphone 7 Plus của V, đã phát hiện nội dung mua bán số đề. Kết quả kiểm tra và cộng các “phơi”, còn lưu lại trong bộ nhớ điện thoại, có tất cả là 21 tin nhắn. Trong đó, tin nhắn cuối cùng chưa được hồi đáp. Trong 20 tin nhắn còn lại, có 15 tin nhắn với số tiền dùng để đánh bạc có giá trị trên 5.000.000đ, cụ thể như sau:
1. Ngày 12-12-2018, số tiền trên phơi là 7.200.000đ, tiền trúng là 7.000.000đ, tổng số tiền đánh bạc là 14.200.000đ.
2. Ngày 13-12-2018 (đài An Giang), số tiền trên phơi là 11.800.000đ, tiền trúng là 17.500.000đ, tổng số tiền đánh bạc là 29.300.000đ.
3. Ngày 13-12-2018 (đài Tây Ninh), số tiền trên phơi là 5.400.000đ.
4. Ngày 13-12-2018 (đài Bình Thuận), số tiền trên phơi 5.400.000đ.
5. Ngày 14-12-2018 (đài Vĩnh Long), số tiền trên phơi là 5.400.000đ.
6. Ngày 14-12-2018 (đài Bình Dương), số tiền trên phơi là 6.450.000đ, tiền trúng là 7.000.000đ, tổng số tiền đánh bạc là 13.450.000đ.
7. Ngày 14-12-2018 (đài Trà Vinh), số tiền trên phơi là 6.450.000đ, tiền trúng là 7.000.000đ, tổng số tiền đánh bạc là 13.450.000đ.
8. Ngày 15-12-2018 (đài Tp. Hồ Chí Minh số tiền trên phơi là 19.800.000đ, tiền trúng là 7.000.000đ, tổng số tiền đánh bạc là 26.800.000đ.
9. Ngày 15-12-2018 (đài Long An), số tiền trên phơi là 19.800.000đ, tiền trúng là 14.000.000đ, tổng số tiền đánh bạc là 33.800.000 đ.
10. Ngày 15-12-2018 (đài Bình Phước), số tiền trên phơi là 19.800.000đ, tiền trúng là 14.000.000đ, tổng số tiền đánh bạc là 33.800.000đ
. 11. Ngày 15-12-2018 (đài Hậu Giang), số tiền trên phơi là 19.800.000đ.
12. Ngày 19-12-2018, số tiền trên phơi là 10.070.000đ, tiền trúng là 10.500.000đ, tổng số tiền đánh bạc là 20.570.000đ.
13. Ngày 20-12-2018, số tiền trên phơi là 8.460.000đ, tiền trúng là 14.000.000đ, tổng số tiền đánh bạc là 22.460.000đ.
14. Ngày 22-12-2018 (đài Hậu Giang), số tiền trên phơi là 9.000.000đ.
15. Ngày 22-12-2018 (đài Long An), số tiền trên phơi là 9.000.000đ.
Qua kết quả điều tra, Nguyễn Thúy K khai nhận: Có mua số đề dùm cho V. Sau khi nhận được tin nhắn và tiền của V, K sẽ chuyển cho L. L sẽ thanh toán cho V khi trúng. V cho K từ 200.000đ - 400.000đ. Tổng số tiền mà V đã cho K là 3.000.000đ. V giao nhận tiền trực tiếp với K. Chỉ có một lần: V gửi qua tài khoản của Nguyễn Thúy V (là em của K).
Cơ quan điều tra chưa tìm được người tên L.
Tại bản án số 75/2019/HS-ST ngày 18-9-2019, Tòa án nhân dân quận B đã:
Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s, t Khoản 1 Điều 51, điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Lê Hoàng V 09 tháng tù, phạt bổ sung 20.000.000 đồng.
Áp dụng Khoản 1, Khoản 3 Điều 321; điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Nguyễn Thúy K 12 tháng tù, phạt bổ sung 20.000.000 đồng.
Ngoài ra, còn có các quyết định về: xử lý vật chứng, áp dụng biện pháp tư pháp và án phí trong vụ án.
Sau khi tuyên án sơ thẩm:
- Ngày 30-9-2019, bị cáo K nộp đơn kháng cáo, xin hưởng án treo và giảm mức phạt tiền, do hoàn cảnh gia đình khó khăn: không có nghề nghiệp ổn định và phải nuôi 2 con nhỏ; trình độ hiểu biết pháp luật thấp.
- Ngày 01-10-2019, bị cáo V nộp đơn kháng cáo, xin hưởng án treo, do bản thân là lao động chính trong gia đình.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo vẫn giữ nguyên kháng cáo. Không có ai cung cấp thêm chứng cứ về các tình tiết mới.
Luật sư bào chữa cho bị cáo K, cho rằng bị cáo có rất nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, g, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hoàn cảnh gia đình rất khó khăn, có thu nhập thấp và có 01 đứa con khuyết tật. Nên đề nghị chấp nhận kháng cáo, cho bị cáo hưởng án treo và giảm phạt tiền xuống mức thấp nhất.
Kiểm sát viên nhận định: bản án sơ thẩm đã tuyên có căn cứ. Đã có xem xét các tình tiết giảm nhẹ theo luật định. Mức hình phạt đã tuyên đối với các bị cáo là không nặng, nên đề nghị giữ nguyên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Quá trình tiến hành tố tụng ở cấp sơ thẩm tuân thủ các quy định của Pháp luật, bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho những người tham gia tố tụng. Các chứng cứ tại hồ sơ đủ để kết luận về hành vi phạm tội của các bị cáo, cũng như để giải quyết các vấn đề khác có liên quan.
Bị cáo V đã bị bắt quả tang khi đang tham gia đánh bạc. Khi kiểm tra điện thoại di động của bị cáo, đã phát hiện dữ liệu về hành vi mua số đề. Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với các chứng cứ khác tại hồ sơ vụ án. Đối chiếu với các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ để kết luận về hành vi phạm tội của bị cáo.
Căn cứ vào các dữ liệu điện tử còn lưu trong điện thoại di động của bị cáo V, thông tin do công ty Viễn thông cung cấp và lời khai nhận của bị cáo V, có đủ chứng cứ về vai trò trung gian mua bán số đề của bị cáo K. K cũng cung cấp được các mẫu phơi đã gửi đi (còn lưu trên điện thoại di động) cho một người khác.
Kết quả phân tích và cộng các “phơi” còn lưu trên điện thoại di động, cho thấy: Có 15 phơi có ghi số tiền đánh bạc có giá trị trên 5.000.000đ.
Xét xử các bị cáo về tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, là có lợi cho bị cáo K.
Khi lượng hình, Tòa án sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết của vụ án.
Bị cáo V đã bị phát hiện cùng với vật chứng. Bị cáo khai báo thành khẩn và thể hiện sự ăn năn hối cải thật sự.
Ngoài lời khai, bị cáo không có hành động nào khác để tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra, nên không thể áp dụng điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, khi lượng hình.
Bị cáo K có nhìn nhận các chứng cứ do Cơ quan điều tra đã thu thập được, nhưng chưa khai báo thành khẩn, chưa khai báo đầy đủ các tình tiết có liên quan. Không chấp nhận quan điểm cho rằng am hiểu pháp luật kém, bởi lẽ hành vi ghi bán số đề là phổ biến, đã bị xem là hành vi trái pháp luật từ lâu, đã và đang bị xử lý rất nghiêm, nhưng bị cáo vẫn bất chấp. Phạm tội do lỗi cố ý trực tiếp, không phải do hoàn cảnh dặc biệt khó khăn.
Bị cáo nộp tiền do phạm tội mà có sau khi tuyên án sơ thẩm là tự nguyện thi hành án, vì phần này của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, nên đã có hiệu lực thi hành. Nộp tiền do phạm tội mà có theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự là bắt buộc, không phải là khắc phục hậu quả theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Các bị cáo phạm tội rất nhiều nhiều lần. Tội phạm này đang còn xảy ra rất nhiều, nên cần xử phạt cho nghiêm nhằm đảm bảo tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo.
Mức hình phạt đã tuyên đối với các bị cáo là rất nhẹ. Do không có kháng nghị theo hướng tăng nặng, nên giữ nguyên, như kêt luận của Kiểm sát viên.
Ngày 31-1-2019, V đã bị bắt quả tang khi đang đánh bạc với V, D và C, nhưng chưa bị xử phạt hành chính.
Ngoài ra, trong số 20 tin nhắn mua số đề và đã được K chấp nhận, có 5 tin nhắn với số tiền đánh bạc có giá trị dưới 5.000.000đ, nhưng cũng chưa bị xử phạt hành chính, cụ thể là:
1. Ngày 1-12-2018, số tiền trên phơi là 2.000.000đ.
2. Ngày 2-12-2018, số tiền trên phơi là 4.150.000đ.
3. Ngày 9-12-2018 (đài Kiên Giang), số tiền trên phơi là 3.600.000đ.
4. Ngày 9-12-2018 (đài Đà Lạt), số tiền trên phơi là 3.600.000đ.
5. Ngày 9-12-2018 (đài Tiền Giang), số tiền trên phơi là 3.600.000đ.
Do vậy, cần kiến nghị Công an quận Bra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc đối với Lê Hoàng V.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Hoàng V và Nguyễn Thúy K.
Tuyên bố các bị cáo Lê Hoàng V và Nguyễn Thúy K phạm tội Đánh bạc.
Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; các điều 17 và 53 Bộ luật Hình sự; xử phạt Lê Hoàng V 9 (chín) tháng tù. Phạt bổ sung 20.000.000đ.
Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; các điều 17 và 53 Bộ luật Hình sự; xử phạt Nguyễn Thúy K 01 (một) năm tù. Phạt bổ sung 20.000.000đ.
Thời hạn tù tính từ ngày bắt đầu chấp hành án.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm, không có kháng cáo, kháng nghị, đã có hiệu lực thi hành.
Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Kiến nghị Công an quận B ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Lê Hoàng V về hành vi đánh bạc.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - VKSND TPCT; - Trại tạm giam; - Cơ quan tố tụng Q.B; - Bị cáo; - Lưu. | (ĐÃ KÝ) NGUYỄN VĂN TRINH |