vanban.org

Bản án 132/2026/HSST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hà Nội, TP. Hà Nội Tuyên án 31/03/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự;

Áp dụng: Các Điều 106, 136, 260, 268, 269, 331, 332, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự số 99/2025/QH15 ngày 27/6/2025; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tuyên bố: Bị cáo Lê Ngọc H phạm tội Tàng tr… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình s…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - HÀ NỘI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 132/2026/HSST
Ngày 31/3/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Vũ Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phùng Văn Thành

2. Bà Nguyễn Thị Cúc

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Anh Tú – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Dương Bá Thành Luân - Kiểm sát viên

Ngày 31 tháng 03 năm 2026 tại Điểm cầu Toà án nhân dân khu vực 5 - Hà Nội, địa chỉ Lô H - Khu đô thị V, phố M, phường V, thành phố Hà Nội và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam số 2 Công an thành phố H xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 89/2026/HSST ngày 27/02/2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 117/2026/QĐXXST- HS ngày 16 tháng 03 năm 2026 đối với bị cáo:

Lê Ngọc H; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1991; CCCD số 001091023810 cấp ngày 21/7/2021 tại Cục C về TTXH; Nơi sinh: Hà Nội; Nơi thường trú: thôn T, xã Đ, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Ngọc L và bà Bùi Thị N; Vợ: Nguyễn Thị T và 02 con lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2014; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 16/12/2025, tạm giữ từ ngày 17/12/2025 đến ngày 26/12/2025 chuyển tạm giam. Hiện bị can đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H.

(Bị cáo có mặt điểm cầu thành phần Trại tạm giam số 02)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Bùi Thị N, sinh năm 1963; Nơi cư trú: thôn T, xã Đ, thành phố Hà Nội (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 50 phút ngày 16/12/2025, Lê Ngọc H đang ở nhà tại thôn T, xã Đ, TP Hà Nội thì nảy sinh ý định mua ma tuý về để sử dụng cho bản thân. Lê Ngọc H dùng tài khoản zalo “Resentment Toward Women” được đăng ký bởi số điện thoại 0977570684 của Lê Ngọc H gọi qua ứng dụng Zalo cho người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch) có tên zalo là “Người bản lĩnh” để hỏi mua ma tuý. Lê Ngọc H hỏi mua 200.000 đồng (hai trăm nghìn) tiền ma tuý “Đá” và 100.000 đồng (một trăm nghìn) tiền ma tuý “Ngựa”. Tài khoản zalo “Người bản lĩnh” đồng ý bán ma tuý cho Lê Ngọc H và hẹn đến khu vực thôn T để giao dịch ma tuý. Sau đó Lê Ngọc H sử dụng xe môtô Honda Lead màu bạc- đen, BKS: 30K2 - 2864 một mình đi từ nhà đến khu vực thôn T, xã P với mục đích mua ma tuý mang về nhà để sử dụng cho bản thân. Trên đường đi Lê Ngọc H có gọi zalo cho người đàn ông có tên zalo là “Người bản lĩnh” thì người này hướng dẫn Lê Ngọc H đi loanh quanh vào nhiều ngõ, nhiều nơi khác nhau, khi đang đi (không nhớ vị trí cụ thể) thì gặp 01 người đàn ông không quen biết đang đứng ở ven đường vẫy. Lê Ngọc H hiểu đây là người đàn ông Lê Ngọc H gọi hỏi mua ma tuý trước đó. Lê Ngọc H đưa cho người đàn ông này 300.000 đồng (ba trăm nghìn) để mua ma tuý thì người đàn ông này cầm tiền và đưa lại cho Lê Ngọc H 01 (một) túi nilong màu trắng (dán băng dính trắng bên ngoài), Lê Ngọc H biết bên trong là ma tuý liền cất vào túi quần phía trước bên trái đang mặc và điều khiển xe máy đi về hướng xã Đ, TP Hà Nội. Khi đi đến khu vực đường Y, xã P, TP Hà Nội thì bị Cơ quan Công an kiểm tra. Lê Ngọc H đã tự nguyện lấy từ trong túi quần phía trước bên trái đang mặc ra 01 (một) túi nilong màu trắng (dán băng dính trắng bên ngoài) bên trong có chứa tinh thể màu trắng và 01 viên nén màu hồng, Lê Ngọc H tự khai nhận đó là ma tuý “Đá” và ma tuý “ Ngựa” của Lê Ngọc H mua về để sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng.

Thu giữ của Lê Ngọc H:

- 01 (một) túi nilong màu trắng (dán băng dính trắng bên ngoài) bên trong có chứa tinh thể màu trắng và 01 viên nén màu hồng.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nubia màu vàng bên trong lắp sim.

- 01 xe mô tô Honda Lead màu Bạc-đen, BKS: 30K2 – 2864

Tại Bản kết luận giám định số 9076/KL-KTHS ngày 26/12/2025, Phòng Kĩ thuật hình sự - Công an Thành phố H kết luận: 01 túi nilong màu trắng bên ngoài dán băng dính màu trắng, bên trong có tinh thể màu trắng là ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,204 gam; 01 viên nén màu hồng là ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,105 gam. Trong mẫu nước tiểu của Lê Ngọc H thu ngày 16/12/2025 có tìm thấy ma túy loại Methamphetamine.

Tại bản Cáo trạng số 11/CT-VKSKV5 ngày 25/02/2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hà Nội truy tố bị cáo Lê Ngọc H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Lê Ngọc H khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai tại cơ quan điều tra, phiếu xét nghiệm ma túy, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ; phù hợp với nội dung kết luận điều tra và cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không thắc mắc, khiếu nại về quyết định và hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hà Nội giữ quyền công tố luận tội và tranh luận tại phiên tòa, sau khi phân tích, đánh giá các tình tiết của vụ án, vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự để tuyên bố bị cáo Lê Ngọc H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và xử phạt bị cáo Lê Ngọc H từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/12/2025. Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về các biện pháp tư pháp: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo; tịch thu sung vào ngân sách nhà nước đối với chiếc điện thoại thu giữ của bị cáo; trả lại cho bà Bùi Thị N chiếc xe mô tô Honda Lead màu Bạc-đen, BKS: 30K2 – 2864.

Bị cáo nói lời sau cùng, đồng ý với lời luận tội của đại diện viện kiểm sát và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 16/12/2025, tại khu vực đường Y, xã P, thành phố Hà Nội, Lê Ngọc H có hành vi tàng trữ trái phép 0.309 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm hoạt động quản lý nhà nước về chất ma túy, không những làm suy giảm nghiêm trọng đến sức khỏe của bản thân bị cáo mà còn là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Bị cáo nhận thức được hành vi đó là vi phạm pháp luật hình sự nhưng do không vượt qua được cám dỗ, vẫn cố tình thực hiện tội phạm. Vì vậy, cần xử lý nghiêm đối với bị cáo vừa để trừng trị bị cáo đồng thời giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới.

Bị cáo Lê Ngọc H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Lê Ngọc H có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có mẹ là bà Bùi Thị N được tặng thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng ba nên Hội đồng xét xử xem xét là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để áp dụng đối với bị cáo.

Bị cáo có nhân thân tốt lần đầu phạm tội; chưa có tiền án, tiền sự.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy cần thiết áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để nhà nước giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Đánh giá về các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp, không có ai khiếu nại gì nên Hội đồng xét xử không phải xem xét.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định, Hội đồng xét xử thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Biện pháp tư pháp:

Đối với 0,204 tinh thể màu trắng là ma túy Methamphetamine (cơ quan giám định thu mẫu 0,039 gam) và 0,105 gam viên nén màu hồng là ma túy Methamphetamine (cơ quan giám định thu mẫu 0,015 gam) là vật nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nubia màu vàng bên trong lắp sim thu giữ của bị cáo được sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước là phù hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda Lead màu Bạc-đen, BKS: 30K2 2864, có số khung: RLHJF24099Y063850, số máy: JF24E0073491 là số nguyên thuỷ, không nằm trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên của bà Bùi Thị N là mẹ đẻ của Lê Ngọc H. Bà N cho Lê Ngọc H mượn xe để đi làm, không biết việc Lê Ngọc H sử dụng chiếc xe trên để đi mua ma túy. Do vậy, cần thiết trả lại chiếc xe máy trên cho bà Bùi Thị N là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Các vấn đề khác:

Đối với hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy của Lê Ngọc H: Cơ quan điều tra đã xác minh tại công an xã Đ xác định Lê Ngọc H chưa từng đi cai nghiện ma túy và không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự nên hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lê Ngọc H chưa đủ yếu tố cấu thành tội Sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự. Ngày 13/3/2026, công an xã P đã ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với Lê Ngọc H và Lê Ngọc H đã nộp tiền phạt theo quy định. Hội đồng xét xử không phải xem xét.

Đối với người bán ma túy cho Lê Ngọc H: Do bị cáo khai không biết thông tin họ tên, địa chỉ, số điện thoại, không nhận dạng được, không còn tài liệu nào khác nên Cơ quan điều tra không làm rõ được là có căn cứ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Về những chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa cơ bản phù hợp với kết quả nghị án của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự;

Áp dụng: Các Điều 106, 136, 260, 268, 269, 331, 332, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự số 99/2025/QH15 ngày 27/6/2025; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Ngọc H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt: Bị cáo Lê Ngọc H 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/12/2025.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.

Biện pháp tư pháp:

- Tịch thu tiêu hủy (một) phong bì được niêm phong bên ngoài có chữ ký xác nhận của Giám định viên, cán bộ niêm phong, đương sự Lê Ngọc H và dấu niêm phong, bên trong là 01 túi nilong màu trắng bên ngoài dán băng dính màu trắng bên trong có tinh thể màu trắng và 01 viên nén màu hồng là ma túy loại Methamphetamine theo kết luận giám định số: 9076/KL-KTHS ngày 26/12/2025 của phòng K;

- Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nubia màu vàng, máy cũ đã qua sử dụng; bên trong có lắp sim.

- Trả lại bà Bùi Thị N 01 (một) xe môtô nhãn hiệu Honda Lead màu Bạc-đen, BKS: 30K2 - 2864, số khung: RLHJF24099Y063850, số máy: JF24E0073491, cũ đã qua sử dụng theo kết luận giám định số: 875/KL-KTHS ngày 21/01/2026 của phòng K.

(Hiện các vật chứng trên đang được lưu giữ tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 5 – Hà Nội theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 03/3/2026)

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Ngọc H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Báo cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Cỡ chữ