- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Thị H - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hà Thị H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 132/2026/HS-ST Ngày 30-3-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA
Tại điểm cầu Trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Sơn La:
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa pH tòa: Bà Nguyễn Thùy Linh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Hội, bà Lò Thị Minh.
- Thư ký pH tòa: Bà Hà Thị Nga, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Sơn La.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Sơn La tham gia pH tòa: Bà Mùi Thị Quyên - Kiểm sát viên.
Tại điểm cầu thành phần Phân trại tạm giam Vân Hồ - Công an tỉnh Sơn La:
- Thư ký Tòa án: Ông Nguyễn Trọng Định, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát: Ông Nguyễn Duy Hùng - Kiểm sát viên.
- Cán bộ, chiến sỹ thuộc phân trại tạm giam Vân Hồ - Công an tỉnh Sơn La: Ông Tòng Đức Duy, ông Vì Văn Tuấn.
Ngày 30 tháng 3 năm 2026, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Sơn La và điểm cầu thành phần Phân trại tạm giam Vân Hồ - Công an tỉnh Sơn La xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 137/2026/TLST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 140/2026/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 3 năm 2026 đối với:
Bị cáo: Hà Thị H, sinh ngày 25 tháng 12 năm 1980 tại phường M, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Tổ dân phố N, phường M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 05/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Hà Văn K (đã chết) và bà Hoàng Thị U; bị cáo có chồng là Hà Văn T (đã chết) và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2025 đến nay. Có mặt tại điểm cầu thành phần.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại pH tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 11 giờ 50 phút ngày 19/12/2025, tổ công tác Công an phường Mộc Châu làm nhiệm vụ tại tổ dân phố Na Lun, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La tiến hành kiểm tra đối với Hà Thị H đang đi bộ trên đường dân sinh. Qua kiểm tra phát hiện trong túi áo khoác bên phải H đang mặc có 01 gói nilon màu xanh bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy, loại Heroine. H khai nhận đó là gói ma túy của H mua về mục đích để sử dụng cho bản thân. Căn cứ vào hành vi vi phạm tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Hà Thị H, đồng thời thu giữ, niêm phong vật chứng để điều tra, xử lý.
Cùng ngày, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La tiến hành test ma túy đối với Hà Thị H. Kết quả: Dương tính với chất ma túy.
Ngày 19/12/2025, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La tiến hành xác định khối lượng cục chất bột màu trắng nghi là Heroine thu giữ của Hà Thị H được 0,22 gam, lấy toàn bộ làm mẫu giám định, mẫu có ký hiệu H.
Tại Kết luận giám định số 76/KL-KTHS ngày 21/12/2025 của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu ký hiệu H gửi giám định là ma túy; Loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự (sửa đổi bổ sung năm 2017 và 2025) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,22 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,22 gam. Loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự (sửa đổi bổ sung năm 2017 và 2025) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định”.
Quá trình điều tra Hà Thị H khai nhận: Bản thân nghiện chất ma túy. Khoảng 09 giờ ngày 19/12/2025, H một mình đi bộ đến xã Lóng Sập, tỉnh Sơn La tìm mua ma túy mang về sử dụng. Khi đi đến khu vực cuối tổ dân phố Na Lun giáp ranh với xã Lóng Sập, tỉnh Sơn La thì H đã gặp một người phụ nữ khoảng 50 tuổi không quen biết và hỏi mua được của người đó 01 gói Heroine, bên ngoài gói bằng mảnh nilon màu xanh với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, H cất giấu vào trong túi áo khoác bên phải đang mặc rồi đi về nhà. Khi đi được một đoạn thì gặp tổ công tác Công an phường Mộc Châu kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.
Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho Hà Thị H, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La không có căn cứ để điều tra xác minh, làm rõ và xử lý.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Hà Thị H, quá trình điều tra, xác minh xác định Hà Thị H không thuộc diện nào quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2025. Ngày 06/02/2026, Công an phường Mộc Châu đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Hà Thị H số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 30 Nghị định 282/2025/NĐ-CP ngày 30/10/2025 của Chính phủ.
Cáo trạng số 05/CT-VKSSLA-KV ngày 27/02/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Sơn La truy tố bị can Hà Thị H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Tại pH tòa:
- Bị cáo Hà Thị H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai tại cơ quan Cảnh sát điều tra và nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát truy tố.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Sơn La giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hà Thị H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:
1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2025:
Xử phạt bị cáo Hà Thị H từ 36 tháng đến 42 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 01 mảnh nilon màu xanh.
3. Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý các vấn đề của vụ án. Bị cáo nhất trí với cáo trạng và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận, đối đáp gì.
Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại pH tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại pH tòa, bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
2] Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Hà Thị H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra. Lời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi đã thực hiện, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm giữ, biên bản xác định số lượng, khối lượng, bản kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 19/12/2025, bị cáo Hà Thị H đã thực hiện hành vi cất giấu trái phép 0,22 gam chất ma túy, loại Heroine, mục đích mua về để sử dụng cho bản thân. Nguồn gốc số ma túy thu giữ của Hà Thị H là do H mua được của một người phụ nữ không quen biết 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2025, có mức hình phạt tù từ 03 năm đến 05 năm.
Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Do vậy, cần quyết định hình phạt nghiêm khắc và phù hợp nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tính tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại pH tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại pH tòa thấy rằng bị cáo không có tài sản gì có giá trị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về vật chứng, xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 01 mảnh nilon màu xanh. Xét thấy đây là vật không có giá trị, không sử dụng được nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[6] Về các vấn đề khác: Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho bị cáo Hà Thị H như H khai nhận. Quá trình điều tra, không xác định được nhân thân, lai lịch nên cơ quan Cảnh sát điều tra không có cơ sở để xác minh, điều tra là phù hợp.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Hà Thị H, quá trình điều tra, xác minh xác định Hà Thị H không thuộc diện nào quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2025. Ngày 06/02/2026, Công an phường Mộc Châu đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0003802/QĐ-XPHC đối với Hà Thị H về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 30 Nghị định 282/2025/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 30/10/2025 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự với số tiền 1.500.000 đồng là phù hợp.
[7] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
[8] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Thời hạn tạm giam của bị cáo còn dưới 45 ngày do đó Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2025:
Tuyên bố bị cáo Hà Thị H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Hà Thị H 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 19/12/2025.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 01 mảnh nilon màu xanh.
(Vật chứng được mô tả chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 130/BBVC-THA ngày 03/3/2026 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 - Sơn La).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Hà Thị H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 30/3/2026).
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La; - Viện KSND tỉnh Sơn La; - Công an tỉnh Sơn La; - Viện KSND khu vực 6 - Sơn La; - Phòng THADS khu vực 6 - Sơn La; - Trại giam; - THA HS; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PH TÒA Nguyễn Thùy Linh |