vanban.org

Bản án 132/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Trường Gi phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường Gi 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 06/3/2026. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trường Giang - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Trường Gi phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 – QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:132/2026/HS-ST
Ngày: 29/6/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: ông Bùi Văn Tuấn;

Các Hội thẩm nhân dân: ông Vũ Khắc Hoàn và bà Vũ Thị Thanh;

- Thư ký phiên tòa:bà Nguyễn Thùy Dương, Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 2- Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2- Quảng Ninh tham gia phiên tòa: bà Lê Thị Thanh Hải – kiểm sát viên.

Ngày 29/6/2026, tại phòng xử án Tòa án nhân dân Khu vực 2- Quảng Ninh xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 132/2026/TLST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2026 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 131/2026/QĐXXST-HS ngày 15/6/2026 đối với bị cáo:

1.Họ và tên: Nguyễn Trường Gi, sinh ngày 27/12/1999 tại Quảng Ninh; giới tính: nam; nơi cư trú tại: thôn 13, phường Hiệp H, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: lao động tự do; học vấn: 6/12; bố là ông Nguyễn Văn T và mẹ là bà Đinh Thị L; Vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 29/3/2018 bị Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Quảng Ninh) xử phạt 06 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”. Bị cáo bị bắt quả tang và bị tạm giữ từ ngày 06/3/2026. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh (phân trại tạm giam Uông Bí), có mặt tại phiên tòa;

2.Người chứng kiến: Anh Nguyễn Văn Thanh và anh Lê Thanh Quảng. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Trường Gi sử dụng ma tuý "đá" từ đầu năm 2025. Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 05/3/2026, Gi một mình điều khiển xe mô tô đến khu vực Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng, cách cầu Bến Rừng khoảng 01 km, mua 01 túi ma tuý "đá" với giá 500.000 đồng của 01 người đàn ông không quen biết mang về nhà sử dụng hết một phần, sử dụng xong Gi cạo rửa sạch bầu tròn của "cóng" thuỷ tinh trong bộ sử dụng ma túy, còn một phần ma túy chưa sử dụng Gi cất vào hộp nhựa màu đen cùng với bộ sử dụng ma túy mang theo người, khi nào có nhu cầu thì tiếp tục sử dụng. Đến khoảng 12 giờ 20 phút ngày 06/03/2026, Gi đi bộ đến khu vực bãi đất trống gần khu công nghiệp Nam Tiền Phong (thuộc khu Tiền Phong 4, phường Liên Hòa, tỉnh Quảng Ninh) tìm nơi sử dụng ma túy nhưng chưa kịp sử dụng thì bị lực lượng Công an bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Tại Kết luận giám định số 469/KL-KTHS ngày 11/3/2026 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: 0,156 gam chất tinh thể màu trắng là ma tuý Methamphetamine; tìm thấy chất ma tuy Methamphetamine trong mẫu nước tiểu thu của Nguyễn Trường Gi gửi giám định.

Về vật chứng: Thu tại tay phải Gi đang cầm 01 hộp nhựa màu đen, bên trong có 01 túi nilon chứa 0,156 gam chất tinh thể màu trắng; 01 nắp chai nhựa màu xanh được đục 02 lỗ tròn, 01 lỗ gắn ống hút nhựa màu đen và 01 lỗ gắn ống thuỷ tinh có bầu tròn. Ngoài ra còn thu mẫu nước tiểu và tạm giữ của Gi 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone kèm sim số 0374809589.

Bản Cáo trạng số: 109/CT-VKSKV2 ngày 12/6/2026, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Trường Gi về tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 49 Bộ luật hình sự.

Người chứng kiến vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình điều tra có lời khai phù hợp với lời khai của bị cáo, phù hợp với tài liệu cơ quan điều tra thu thập được.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Quảng Ninh, giữ nguyên quan điểm như nội dung Cáo trạng đã truy tố;

Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Trường Gi từ 40 (bốn mươi) tháng tù đến 46 (bốn mươi sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”,thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 06/3/2026.

Đề nghị áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 469/KL-KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh, bên trong chứa ma túy hoàn lại sau giám định.

- Tịch thu tiêu hủy 01 nắp chai nhựa màu xanh được đục 02 lỗ tròn, 01 lỗ gắn ống hút nhựa màu đen và 01 lỗ gắn ống thuỷ tinh có bầu tròn.

- Tịch thu tiêu hủy 01 hộp nhựa màu đen.

- Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu xanh kèm sim số 0374.809.589..

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Trường Gi thừa nhận hành vi phạm tội và thừa nhận việc Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Quảng Ninh truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội nên không tranh luận; bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về trình tự thủ tục tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Khu vực 2 - Quảng Ninh, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Quảng Ninh, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về tội danh:

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Trường Gi khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa và tại Cơ quan điều tra đều phù hợp với nhau; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Trường Gi ngày 06/3/2026, phù hợp với lời khai của những người chứng kiến; phù hợp với Kết luận giám định số: 469/KL-KTHS ngày 11/3/2026 cua Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ kết luận: Vào hồi 12 giờ 20 phút ngày 06/3/2026, tại khu vực bãi đất trống gần Khu công nghiệp Nam Tiền Phong, thuộc khu Tiền Phong 4, phường Liên Hòa, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Trường Gi đã có hành vi tàng trữ 0,156 gam ma tuý Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị lực lượng Công an bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Bị cáo là người trưởng thành có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là bị pháp luật cấm nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy.

Bản Cáo trạng số: 109/CT-VKSKV2 ngày 12/6/2026, của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Quảng Ninh đã truy tố đối với bị cáo và các đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, được chấp nhận.

. Về hình phạt:

Xét nhân thân của bị cáo cho thấy: Bị cáo Nguyễn Trường Gi bị Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Quảng Ninh) xử phạt 06 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” ngày 29/3/2018. Tuy bị cáo đã thi hành xong bản án và được xóa án tích nhưng cũng thể hiện bị cáo có nhân thân xấu.

Xét tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Sau khi xem xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cần phải xử phạt với một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền. Nhưng xét thấy bị cáo không có việc làm, không có thu nhập ổn định và không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về vật chứng:

Số ma túy được hoàn lại sau giám định trong niêm phong số:469/KL-KTHS là vật cấm tàng trữ lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu xanh, kèm sim số 0374.809.589 thu giữ của Nguyễn Trường Gi là vật chứng không dùng vào việc phạm tội cần trả lại cho bị cáo;

Đối với 01 hộp bằng nhựa màu đen, 01 nắp chai nhựa màu xanh được đục 02 lỗ tròn, 01 lỗ gắn ống hút nhựa màu đen và 01 lỗ gắn ống thuỷ tinh có bầu tròn không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy.

. Các vấn đề khác:

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Trường Gi, do Gi không là đối tượng thuộc diện xử lý theo quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự nên Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ đến Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Quảng Ninh để xử lý hành chính theo quy định nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Nguyễn Trường Gi ngày 05/3/2026 tại thành phố Hải Phòng theo lời khai của Gi, không xác minh được lai lịch, địa chỉ của người này, không có căn cứ để làm rõ xử lý nên HĐXX không xem xét giải quyết.

. Về án phí:

Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Trường Gi phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường Gi 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 06/3/2026.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ các điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 469/KL-KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh, bên trong chứa ma túy hoàn lại sau giám định.

- Tịch thu tiêu hủy 01 nắp chai nhựa màu xanh được đục 02 lỗ tròn, 01 lỗ gắn ống hút nhựa màu đen và 01 lỗ gắn ống thuỷ tinh có bầu tròn.

- Tịch thu tiêu hủy 01 hộp bằng nhựa màu đen.

- Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu xanh kèm sim số 0374.809.589.

(Tình trạng các vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Phòng thi hành án dân sự Khu vực 2 - Quảng Ninh ngày 16/6/2026).

4. Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Trường Gi phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ các Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ