vanban.org

Bản án 132/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 9 - Hà Nội, TP. Hà Nội Tuyên án 12/12/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Tuyên bố bị cáo Bùi Tuấn A phạm tội: “Sử dụng trái phép chất ma túy ”.

Xử phạt bị cáo: Bùi Tuấn A 32 ( Ba mƣơi hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 15/9/2025. Án phí: Áp dụng điều 135, điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự ; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí lệ phí Tòa… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Tuấn A - phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
  • Tòa quyết gì? Xử: Tuyên bố bị cáo Bùi Tuấn A phạm tội: “Sử dụng trái phép chất ma túy ”.
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9 - TP. HÀ NỘI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:132 /2025/HS-ST
Ngày: 12/12/2025.

NHÂN DA

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9- THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Thu Hƣờng;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Xuân Sơn

Bà Phùng Thị Chiển

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Khuất Thị Mỹ Dung - Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 12 năm 2025 tại Phòng xét xử trực tuyến tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10, thành phố Hà Nội và phòng xét xử trực tuyến trụ sở Trại tạm giam số I, công an thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 124/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 138/2025/QĐXXST- HS ngày 24 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: BÙI TUẤN A, sinh năm 1989; giới tính: Nam, tên gọi khác: Không. Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: thôn Bắc Võng Ng, xã Ph L, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Bùi Văn Nh ( đã chết ); Con bà: Lê Thị Th, sinh năm 1964; Vợ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1996. Con: có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2018, nhỏ nhất sinh năm 2020. Tiền sự: không; Tiền án: Bản án số 66/HSST ngày 24/9/2021 Tòa án nhân dân huyện Ph Th xử 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong ngày 26/11/2023 (chưa được xóa án tích). Nhân thân: Bản án số 195/HSST ngày 11/6/2010 Tòa án nhân dân quận Hà Đông xử 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bản án số 29/HSST ngày 11/4/2014 bị Tòa án nhân dân thị xã S T xử 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/9/2025 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 01 Công an thành phố Hà Nội. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Bùi Tuấn A là người nghiện ma túy, bắt đầu sử dụng ma tuý từ năm 2010 đến nay. Từ ngày 19/8/2025, Tuấn A tham gia điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone tại Trung tâm y tế phường S T (thường gọi là uống Methadone).

Vào lúc 11 giờ 20 phút, ngày 15/9/2025, Công an phường S T tiến hành xét nghiệm (test nhA) chất ma túy trong nước tiểu Bùi Tuấn A và cho kết quả dương tính với ma tuý Heroin. Bản thân Tuấn A đồng ý với kết quả xét nghiệm và khai đã sử dụng ma túy lần gần nhất vào ngày 12/9/2025.

Ngày 15/9/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hà Nội ra Quyết định trưng cầu giám định số G932/QĐ-CSMT, trưng cầu Trung tâm pháp y Hà Nội xét nghiệm nước tiểu của Tuấn A có chứa chất ma túy hay không. Tại Kết luận giám định độc chất số: 689/2025/KLGĐĐC-TTPY ngày 16/9/2025 của Trung tâm pháp y Hà Nội đã kết luận: “Mẫu nước tiểu của Bùi Tuấn A có tìm thấy các chất ma túy là Morphine và Codeine. Khi đối tượng sử dụng Methadone thì không chuyển hoá thành Morphine trong cơ thể. Khi đối tượng sử dụng Heroin thì có chuyển hoá thành Morphine trong cơ thể. Morphine vẫn còn tồn tại trong nước tiểu sau 02 ngày (48 giờ) hoặc lâu hơn”.

Quá trình điều tra, xác định: Khoảng 07 giờ 00 ngày 12/9/2025, Bùi Tuấn A đi đến cổng trung tâm y tế phường Sơn Tây để uống Methadone thì thấy có lực lượng công an đứng trước cổng nên Tuấn A không vào trong uống thuốc mà quay về nhà. Khi đi đến khu vực đê thuộc xã Ph L, thành phố Hà Nội, Tuấn A gặp một người đàn ông lạ mặt có biểu hiện nghiện ma túy nên đã hỏi mua của người này 200.000 đồng tiền ma túy heroine. Sau khi mua xong, Tuấn A đi đến một cửa hàng thuốc ở khu vực chợ S Ch cũ, thuộc xã Ph L, thành phố Hà Nội để mua 01 bơm kim tiêm và 01 lọ nước cất rồi đến khu vực dưới đê xã Phúc Lộc và sử dụng trái phép chất ma túy tại đây bằng hình thức cho ma túy Heroine vào lọ nước cất rồi dùng bơm kim tiêm hút nước cất chứa ma túy và tiêm trực tiếp vào cơ thể.

Về nguồn gốc số ma túy: Tuấn A không biết nhân thân, lai lịch của người đàn ông đã bán ma túy cho mình nên không có căn cứ xác minh làm rõ, vì vậy không đề cập xử lý trong vụ án.

Tại bản cáo trạng số: 67/CT-VKS ngày 10 tháng 11 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Bùi Tuấn A về tội: “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 1 điều 256a BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9, thành phố Hà Nội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Bùi Tuấn A phạm tội: “ Sử dụng trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS, xử phạt bị cáo Bùi Tuấn A từ 33 tháng đến 36 tháng tù. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa;

Căn cứ vào kết quả xét hỏi tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến kiểm sát viên, lời khai nhận tội của bị cáo, cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trA tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9, thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Bùi Tuấn A đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp biên bản phạm pháp quả tang, biên bản khám xét, người làm chứng, biên bản thu giữ tang vật CQĐT thu giữ, cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, như vậy HĐXX có đủ cơ sở xác định: Bị cáo Bùi Tuấn A đang điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone từ ngày 19/8/2025 tại Trung tâm y tế phường S T (quy định tại Luật phòng, chống ma tuý). Ngày 15/9/2025 Công an phường S T xét nghiệm tìm chất ma túy, kết quả: tìm thấy chất ma túy Morphine và Codeine trong nước tiểu của Bùi Tuấn A. Do vậy, bị cáo Bùi A Tuấn phạm vào tội “ Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 256a Bộ luật hình sự.

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm tới chế độ độc quyền của Nhà nước đối với việc quản lý các chất ma tuý, gây mất trật tự xã hội và còn là nguyên nhân gây ra các loại tội phạm khác. vì vậy cần thiết phải xử lý nghiêm khắc để giáo dục riêng và phòng ngừa chung đồng thời góp phần vào công tác đấu trA và phòng chống tội phạm về ma túy.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bản án số 66/HSST ngày 24/9/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Ph Th xử 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chưa được xóa án tích, thuộc trường hợp tái phạm. Do vậy, áp dụng điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự.

Vể tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân bị cáo: Bản án số 195/HSST ngày 11/6/2010 Tòa án nhân dân quận H Đ xử 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bản án số 29/HSST ngày 11/4/2014 Tòa án nhân dân thị xã S T xử 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Như vậy, bản thân bị cáo là người nghiện ma túy, nên đã mua ma túy về sử dụng, bị cáo là người hiểu rõ tác hại của ma túy nhưng lại cố tình reo rắc “cái chết trắng” thông qua hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, hành vi của bị cáo thể hiện ý thức coi thường pháp luật, bị cáo là người có đầy đủ năng lực pháp luật hình sự, bị cáo buộc phải biết, ý thức được tác hại của ma túy đối với sức khỏe bản thân, tệ nạn gây mất trật tự trị an xã hội, là nguyên nhân lây truyền các bệnh HIV, reo rắc cái chết trắng cho cộng đồng, xã hội, hành vi của bị cáo thực hiện, pháp luật phải xử lý nghiêm minh mới có tác dụng răn đe các bị cáo và giáo dục những người khác tránh xa con đường sử dụng chất ma túy, do vậy cần phải áp dụng điều 38 BLHS để quyết định một mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, mới có tác dụng giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt cho gia đình và xã hội, nhằm giáo dục riêng, phòng ngừa chung, góp phần vào công tác đấu trA phòng chống tội phạm về ma túy.

Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo Bùi Tuấn A không biết nhân thân, lai lịch của người đàn ông đã bán ma túy cho mình nên không có căn cứ xác minh làm rõ, vì vậy không đề cập xử lý trong vụ án. Do đó hội đồng xét xử không đề cập xử lý trong vụ án này là có căn cứ.

Án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Xử: Tuyên bố bị cáo Bùi Tuấn A phạm tội: “Sử dụng trái phép chất ma túy ”.

2. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 256a, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 BLHS.

Xử phạt bị cáo: Bùi Tuấn A 32 ( Ba mƣơi hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 15/9/2025.

Căn cứ Điều 329 BLTTHS tiếp tục tạm giam bị cáo Bùi Tuấn A để đảm bảo thi hành án.

3. Án phí: Áp dụng điều 135, điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự ; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí lệ phí Tòa án. Bị cáo Bùi Tuấn A phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng điều 331, điều 333 BLTTHS

Bị cáo Bùi Tuấn A được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ