vanban.org

Bản án 132/2023/HSST — Hình sự

TAND Q. Long Biên, TP. Hà Nội Tuyên án 16/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Tuyên bố bị cáo: Đoàn Văn H phạm tội: “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

2/ Xử phạt: Bị cáo Đoàn Văn H: 36(ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/02/2023. 3/ Án phí các loại và Quyền kháng cáo: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Văn H - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố bị cáo: Đoàn Văn H phạm tội: “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 175 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 132/2023/HSST
Ngày: 16/6/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN

Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đăng Vĩnh

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Khanh

Bà Nguyễn Thị Cúc

Thư ký toà án - ghi biên bản phiên toà:

- Bà Nguyễn Thị Hoàng Yến – Thư ký Tòa án nhân dân quận Long Biên

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên tham gia phiên toà:

- Bà Nguyễn T Hằng – Kiểm sát viên

Ngày 16 tháng 6 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 113/2023/HSST-TL ngày 09/5/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đoàn Văn H. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không, sinh năm: 1992.

Nơi sinh: Ninh Bình. Nơi ĐKHKTT: Thôn B, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. Chỗ

ở: Không cố định. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Văn hóa: lớp 11/12. Quốc tịch:

Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Con ông: Đoàn Văn D, sinh năm:

1966. Con bà: Lê Thị P, sinh năm: 1967. Có vợ: Đặng T H, sinh năm 1994. Và

có 01 con sinh năm 2015. Gia đình bị can có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai.

Theo danh chỉ bản số: 146 lập ngày: 24/02/2023, tại công an quận Long Biên bị

cáo chưa có TATS.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/02/2023, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam số 2-

Công an thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

+ Bị hại: Công ty TNHH Thương mại L, người đại diện theo pháp luật của công

ty ông Lê Đình K- SN: 1981, HKTT: Số 76/24 đường N, phường N, quận Long

Biên, Hà Nội làm giám đốc. Ông K đã ủy quyền cho ông Trần Như Đ, HKTT:

Tổ 7 phường V, quận Long Biên, Hà Nội chịu trách nhiệm toàn bộ đối với xưởng

đá T ( Ông Đ là chồng bà Đào Phương T). Ngày 09/3/2022 ông Đ đã ủy quyền

lại cho bà T ủy quyền cho bà Đào Phương T thay mặt. (Có đơn xin vắng mặt)

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị P, sinh năm 1967 (mẹ đẻ

của bị cáo), hiện trú tại: Thôn B, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 9/3/2022, Công an quận Long Biên tiếp nhận đơn trình báo của chị Đào Phương T (SN: 1988, HKTT: tổ 7 phường V, Long Biên, Hà Nội) tố giác Đoàn Văn H (SN: 1992, HKTT: thôn B, xã G, huyện G, Ninh Bình) chiếm đoạt số tiền 100.790.000 đồng.

Trên cơ sở điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Long Biên đã xác định nội dung vụ án như sau:

Đoàn Văn H là lao động làm Tê cho cơ sở kinh doanh sản xuất nước đá dùng liền T của ông Trần Như Đ và vợ là chị Đào Phương T từ năm 2018 đến tháng 4/2021. Quá trình làm việc H có nhiệm vụ bán đá tại xưởng và giao đá sạch cho các cơ sở tiêu thụ trên địa bàn quận Long Biên, nhận tiền thanh toán rồi giao lại cho chị T. Từ tháng 8/2020 đến tháng 10/2020, H đã nhận tổng số tiền 82.360.000đ tiền thanh toán từ 22 cửa hàng nhưng không chuyển lại cho chị T mà tự ý tiêu xài cá nhân và báo với chị T là các cửa hàng trên vẫn nợ tiền, chưa thanh toán. Đến tháng 12/2020, chị T phát hiện được sự việc thì H thừa nhận hành vi của mình và đã viết bản kiểm điểm về việc tự ý lấy số tiền 82.360.000đ (tám mươi hai triệu ba trăm sáu mươi nghìn đồng) để tiêu xài cá nhân, ngoài ra H nợ chị T 6.750.000đ (sáu triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) nên tổng số tiền H viết trong bản kiểm điểm là 89.000.000đ (tám mươi chín triệu đồng). Sau đó chị T đồng ý để H tiếp tục làm việc trả chị T số tiền H nợ chị T và số tiền H chiếm đoạt của chị T. Sau đó H đã trả được cho chị T 6.750.000đ (sáu triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) tiền nợ chị T và khắc phục được 750.000đ (bảy trăm năm mươi nghìn đồng) tiền đã chiếm đoạt của chị T.

Tuy nhiên, đến tháng 3, 4/2021, H tiếp tục lợi dụng việc bán và giao đá sạch cho 23 cơ sở tiêu thụ, H đã tiếp tục chiếm đoạt số tiền 19.293.000đ (mười chín triệu hai trăm chín mươi ba nghìn đồng) sau đó khoảng tháng 6/2021 H tự động nghỉ việc, bỏ số điện thoại đang sử dụng là số 0357877947 và tiêu sài hết số tiền trên. Thời điểm này, khi Cơ quan điều tra triệu tập, Đoàn Văn H khai nhận toàn bộ sự việc như trên. H khai sau khi chiếm đoạt lấy được tổng số tiền 101.653.000đ (một trăm linh một triệu sáu trăm năm mươi ba nghìn đồng) tiền của chị T thì H đã tiêu hết tiền, không còn khả năng trả nợ, H thay số điện thoại, đi lao động tự do ở nơi khác và không trở về nhà để sinh sống nhằm mục đích trốn tránh việc trả nợ cho chị T.

Quá trình điều tra chị Đào Phương T đã cung cấp cho Cơ quan CSĐT Công an quận Long Biên 01 bản kiểm điểm mang tên Đoàn Văn H đề ngày 30/12/2020 với nội dung kiểm điểm tự ý lấy số tiền 89.000.000đ (tám mươi chín triệu đồng) của chị T. Để có căn cứ giải quyết vụ án, ngày 08/6/2022 Cơ quan CSĐT Công an quận Long Biên đã tiến hành trưng cầu phòng PC 09 - Công an thành phố Hà Nội giám định chữ ký, chữ viết của Đoàn Văn H với tài liệu chị T cung cấp. Tại bản kết luận giám định số 4660 ngày 04/7/2022 của Phòng PC 09 Công an thành phố Hà Nội kết luận: “Chữ viết, chữ ký đứng tên Đoàn Văn H trên các mẫu cần giám định ký hiệu A với chữ viết, chữ ký đứng tên Đoàn Văn H trên các mẫu so sánh ký hiệu M1, M2 là chữ do cùng một người viết và ký ra.”

Cơ quan CSĐT Công an quận Long Biên đã tiến hành cho H tự thân dẫn chỉ địa điểm các cửa hàng đã chiếm đoạt tài sản, H đã tự chỉ dẫn được các cơ sở tiêu thụ phù hợp với các cơ sở mà chị T thống kê H chiếm đoạt tiền từ các cơ sở trên. Xác minh tại các cơ sở này các cơ sở đều cung cấp là tiêu thụ đá của cơ sở đá của chị T và do H giao đá và đã thanh toán hết số tiền pH thanh toán cho H, cụ thể việc xác minh tại các cơ sở tiêu thụ đá sạch và theo khai nhận của H và thống kê về số tiền bị H chiếm đoạt của chị T như sau:

1. Xác minh tại nhà hàng Chim Trời tại địa chỉ số 9, ngõ 11 phố Việt Hưng, phường Việt Hưng, Long Biên, Hà Nội, qua làm việc với chị Lê T Trang - SN: 1989; HKTT: tổ 6, phường Việt Hưng, quận Long Biên là chủ cơ chị Trang trình bày đã thanh toán hết tiền mua đá sạch với H trong thời gian H giao đá sạch cho nhà hàng chim trời của chị Trang. Tiến hành cho chị Trang nhận dạng thì chị Trang nhận dạng chính xác H. Theo như thống kê của chị T với H và bản thân H khai nhận thì H đã chiếm đoạt số tiền 2.670.000đ (hai triệu sáu trăm bảy mươi nghìn đồng) từ việc T tiền của cơ sở này các tháng 8, 9, 10/2020.

2. Xác minh tại quán bia Anh Tú ở địa chỉ ngõ 11, phố Việt Hưng, phường Việt Hưng, Long Biên, Hà Nội qua làm việc với anh Trương Đức Tú - SN: 1980; HKTT: tổ 9, phường Việt Hưng, quận Long Biên là chủ cơ sở canh Tú trình bày đã thanh toán hết tiền mua đá sạch với H trong thời gian H giao đá sạch cho quán bia của anh Tú. Tiến hành cho anh Tú nhận dạng thì anh Tú nhận dạng chính xác H. Theo như thống kê của chị T với H và bản thân H khai nhận thì H đã chiếm đoạt số tiền 4.230.000đ (bốn triệu hai trăm ba mươi nghìn đồng) từ việc T tiền của cơ sở này các tháng 8, 9, 10/2020.

3. Xác minh tại quán Cafe Đô ở ngõ 104 phố Việt Hưng, phường Việt Hưng, Long Biên, Hà Nội qua làm việc với chị Đào Thị T Trang - SN: 1980; HKTT: tổ 9, phường Việt Hưng, quận Long Biên là quản lý của quán trình bày đã thanh toán hết tiền mua đá sạch với chị T và chỉ thanh toán cho H số tiền 1.785.000đ (một triệu bảy trăm tám mươi năm nghìn đồng) vào cuối tháng 8/2020. Tiến hành cho chị Trang nhận dạng thì chị Trang nhận dạng chính xác H. Theo như thống kê của chị T với H và bản thân H khai nhận thì H đã chiếm đoạt số tiền 1.785.000đ (một triệu bảy trăm tám mươi năm nghìn đồng) từ việc T tiền của cơ sở này vào tháng 8/2020.

4. Xác minh tại quán Cafe Mộc ở KĐT Việt Hưng, phường Giang Biên, Long Biên, Hà Nội qua làm việc với anh Lương Thanh Tuấn - SN: 1988; Hiện ở: Chung cư Ecco City, phường Giang Biên, quận Long Biên là chủ quán trình bày đã thanh toán hết tiền mua đá sạch với H trong thời gian H giao đá sạch cho quán. Tiến hành cho anh Tuấn nhận dạng thì anh Tuấn nhận dạng chính xác H. Theo như thống kê của chị T với H và bản thân H khai nhận thì H đã chiếm đoạt số tiền 30.000đ (ba mươi nghìn đồng) từ việc T tiền của cơ sở này vào tháng 4/2021.

5. Xác minh tại quán ăn của chị Âu Thị Phương Thảo - SN: 1986; HKTT: tổ 5, phường Việt Hưng, quận Long Biên chị Thảo trình bày đã thanh toán hết tiền mua đá sạch với H trong thời gian H giao đá sạch cho quán. Tiến hành cho chị Thảo nhận dạng thì chị Thảo nhận dạng chính xác H. Theo như thống kê của chị T với H và bản thân H khai nhận thì H đã chiếm đoạt số tiền 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng) từ việc T tiền của cơ sở này vào tháng 4/2021.

6. Xác minh tại quán ăn Pizza ở KĐT Việt Hưng, phường Giang Biên, Long Biên, Hà Nội qua làm việc với anh Bùi Văn Hiến - SN: 1986; Hiện ở: Chung cư K6, phường Giang Biên, quận Long Biên là chủ quán trình bày đã thanh toán hết tiền mua đá sạch với H trong thời gian H giao đá sạch cho quán. Tiến hành cho anh Hiến nhận dạng thì anh Hiến nhận dạng chính xác H. Theo như thống kê của chị T với H và bản thân H khai nhận thì H đã chiếm đoạt số tiền 450.000đ (bốn trăm năm mươi nghìn đồng) từ việc T tiền của cơ sở này vào tháng 10/2020.

7. Xác minh tại quán Cafe Camell ở địa chỉ ngõ 104 phố Việt Hưng, phường Việt Hưng, Long Biên, Hà Nội qua làm việc với chị Nguyễn Thị Liên - SN: 1992; Hiện ở: Ngõ 139, phố Hoa Lâm, phường Việt Hưng, quận Long Biên là quản lý của quán trình bày đã thanh toán hết tiền mua đá sạch với H trong thời gian H giao đá sạch cho quán. Tiến hành cho chị Liên nhận dạng thì chị Liên nhận dạng chính xác H. Theo như thống kê của chị T với H và bản thân H khai nhận thì H đã chiếm đoạt số tiền 2.706.000đ (hai triệu bảy trăm linh sáu nghìn đồng) từ việc T tiền của cơ sở này các tháng 8, 9,10/2020.

8. Xác minh tại quán Trà sữa Trago tại trung tâm thương mại Savico, qua làm việc với chị Nguyễn Thị Mỹ Hảo - SN: 2001; HKTT: thôn Xuân Dục, xã Yên Thường, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội là quản lý của quán trình bày đã thanh toán hết tiền mua đá sạch với H trong thời gian H giao đá sạch cho quán. Tiến hành cho chị Hảo nhận dạng thì chị Hảo nhận dạng chính xác H. Theo như thống kê của chị T với H và bản thân H khai nhận thì H đã chiếm đoạt số tiền 763.000đ (bảy trăm sáu mươi ba nghìn đồng) từ việc T tiền của cơ sở này các tháng 3,4/2021.

9. Xác minh tại quán Cafe Lai ở địa chỉ 63 Ngô Gia Tự, phường Đức Giang, Long Biên, Hà Nội, qua làm việc với anh Trịnh Xuân Tú - SN: 1987; HKTT: 37 Ngõ Văn Chươn, phường Văn Chương, Đống Đa, Hà Nội là chủ quán trình bày đã thanh toán hết tiền mua đá sạch với H trong thời gian H giao đá sạch cho quán. Tiến hành cho anh Tú nhận dạng thì anh Tú nhận dạng chính xác H. Theo như thống kê của chị T với H và bản thân H khai nhận thì H đã chiếm đoạt số tiền 726.000đ (bảy trăm hai sáu nghìn đồng) từ việc T tiền của cơ sở này vào tháng 4/2021.

10. Xác minh tại quán Spa Aone ở địa chỉ số 2 ngõ 1 phố Việt Hưng, phường Việt Hưng, Long Biên, Hà Nội, qua làm việc với chị Nguyễn T Hạnh - SN: 1995; Hiện ở: tổ 9, phường Việt Hưng, quận Long Biên là quản lý của quán trình bày đã thanh toán hết tiền mua đá sạch với H trong thời gian H giao đá sạch cho quán. Tiến hành cho chị Hạnh nhận dạng thì chị Hạnh nhận dạng chính xác H. Theo như thống kê của chị T với H và bản thân H khai nhận thì H đã chiếm đoạt số tiền 3.110.000đ (ba triệu một trăm mười nghìn đồng) từ việc T tiền của cơ sở này các tháng 8, 9, 10/2020 và tháng 4/2021.

11. Xác minh tại quán Karaoke Bom2, Bom 3 tại phường Việt Hưng, Long Biên, Hà Nội qua làm việc với anh Đào Văn Thống - SN: 1996; Hiện ở: tổ 3, phường Việt Hưng, quận Long Biên là quản lý của quán trình bày đã thanh toán hết tiền mua đá sạch với H trong thời gian H giao đá sạch cho quán. Tiến hành cho anh Thống nhận dạng thì anh Thống nhận dạng chính xác H. Theo như thống kê của chị T với H và bản thân H khai nhận thì H đã chiếm đoạt số tiền 15.500.000đ (mười lăm triệu năm trăm nghìn đồng) từ việc T tiền của cơ sở này các tháng 8,9,10/2020, và tháng 4/2021.

12. Xác minh tại quán bia 111 ở địa chỉ số 111 phố Việt Hưng, phường Việt Hưng, Long Biên, Hà Nội qua làm việc với chị Trương Thị T Hiền - SN: 1990; HKTT: tổ 8, phường Việt Hưng, quận Long Biên là chủ quán trình bày đã thanh toán hết tiền mua đá sạch với H trong thời gian H giao đá sạch cho quán. Tiến hành cho chị Hiền nhận dạng thì chị Hiền nhận dạng chính xác H. Theo như thống kê của chị T với H và bản thân H khai nhận thì H đã chiếm đoạt số tiền 3.545.000đ (ba triệu năm trăm bốn năm nghìn đồng) từ việc T tiền của cơ sở này các tháng 8,9,10/2020.

13. Xác minh nhà hàng Văn Dực và quán chè 287 Ngô Gia Tự, qua làm việc với chị Trần Thị Bích Thảo - SN: 1986; HKTT: tổ 7, phường Việt Hưng, quận Long Biên là chủ 02 quán trên trình bày đã thanh toán hết tiền mua đá sạch với H trong thời gian H giao đá sạch cho quán. Tiến hành cho chị Thảo nhận dạng thì chị Thảo nhận dạng chính xác H. Theo như thống kê của chị T với H và bản thân H khai nhận thì H đã chiếm đoạt số tiền 12.391.000đ (mười hai triệu ba trăm chín mốt nghìn đồng) từ việc T tiền của cơ sở này các tháng 8,9,10/2020.

14. Xác minh tại quán Cafe Trung Nguyên, qua làm việc với anh Nguyễn Văn Tây - SN: 2001; Hiện ở: tổ 8, phường Việt Hưng, quận Long Biên là quản lý của quán trình bày đã thanh toán hết tiền mua đá sạch với H trong thời gian H giao đá sạch cho quán. Tiến hành cho anh Tây nhận dạng thì anh Tây nhận dạng chính xác H. Theo như thống kê của chị T với H và bản thân H khai nhận thì H đã chiếm đoạt số tiền 3.540.000đ (ba triệu năm trăm bốn mươi nghìn đồng) từ việc T tiền của cơ sở này các tháng 9,10/2020 và 3,4/2021.

15. Xác minh tại quán Cafe Omely ở địa chỉ số 2 ngõ 154, phố Việt Hưng, phường Việt Hưng quận Long Biên, Hà Nội, qua làm việc với chị Phan Thị T Lê - SN: 1981; HKTT: tổ 3, phường Việt Hưng, quận Long Biên là chủ quán trình bày đã thanh toán hết tiền mua đá sạch với H trong thời gian H giao đá sạch cho quán. Tiến hành cho chị Lê nhận dạng thì chị Lê nhận dạng chính xác H. Theo như thống kê của chị T với H và bản thân H khai nhận thì H đã chiếm đoạt số tiền 210.000đ (hai trăm mười nghìn đồng) từ việc T tiền của cơ sở này các tháng 4/2021.

16. Xác minh tại quán trà sữa Pozza ở trung tâm thương mại Savico, qua làm việc với chị Nguyễn Thị Hoàng Anh - SN: 2001; HKTT: thôn Lại Hoàng, xã Yên Thường, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội là quản lý của quán trình bày đã thanh toán hết tiền mua đá sạch với H trong thời gian H giao đá sạch cho quán. Tiến hành cho chị Hoàng Anh nhận dạng thì chị Hoàng Anh nhận dạng chính xác H. Theo như thống kê của chị T với H và bản thân H khai nhận thì H đã chiếm đoạt số tiền 11.431.000đ (mười một triệu bốn trăm ba mươi mốt nghìn đồng) từ việc T tiền của cơ sở này các tháng 8,9,10/2020 và tháng 4/2021.

17. Xác minh tại nhà hàng Xuân Chu tại phường Việt Hưng, qua làm việc với anh Trương Xuân Bắc - SN: 1985; HKTT: tổ 6, phường Việt Hưng, quận Long Biên là chủ quán trình bày đã thanh toán hết tiền mua đá sạch với H trong thời gian H giao đá sạch cho quán. Tiến hành cho anh Bắc nhận dạng thì anh Bắc nhận dạng chính xác H. Theo như thống kê của chị T với H và bản thân H khai nhận thì H đã chiếm đoạt số tiền 10.750.000đ (mười triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) từ việc T tiền của cơ sở này các tháng 8,9,10/2020.

18. Xác minh tại quán Cafe Hiếu tại KĐT Việt Hưng, phường Giang Biên, Long Biên, Hà Nội, qua làm việc với chị Trần Thị Bằng - SN: 1986; HKTT: thôn Đa Nội, xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, TP Hà Nội là quản lý của quán trình bày đã thanh toán hết tiền mua đá sạch với H trong thời gian H giao đá sạch cho quán. Tiến hành cho chị Bằng nhận dạng thì chị Bằng nhận dạng chính xác H. Theo như thống kê của chị T với H và bản thân H khai nhận thì H đã chiếm đoạt số tiền 2.334.000đ (hai triệu ba trăm ba mươi tư nghìn đồng) từ việc T tiền của cơ sở này tháng 4/2021.

19. Xác minh tại quán Cafe Nắng tại địa chỉ KĐT Việt Hưng, phường Giang Biên, Long Biên, Hà Nội qua làm việc với anh Trương Văn Thắng - SN: 1976; Hiện ở: KĐT Việt Hưng, phường Giang Biên, quận Long Biên, Hà Nội là quản lý của quán trình bày đã thanh toán hết tiền mua đá sạch với nhân viên giao hàng ngay khi giao nhận hàng và không nợ bất kỳ khoản tiền nào với nhân viên giao hàng. Theo như thống kê của chị T với H và bản thân H khai nhận thì H đã chiếm đoạt số tiền 102.000đ (một trăm linh hai nghìn đồng) từ việc T tiền của cơ sở này tháng 4/2021.

20. Xác minh tại nhà hàng Quốc Phương Trại ở địa chỉ Khu Tầm Xuân A, phường Việt Hưng, Long Biên, Hà Nội qua làm việc với anh Trương Xuân Quốc – SN: 1995; HKTT: tổ 6, phường Việt Hưng, quận Long Biên là chủ quán trình bày từ đầu năm 2021 đến nay thì nhà hàng đã dừng không tiêu thụ đá sạch của cơ sở sản xuất đá Trung Nghĩa còn trước đây đã thanh toán hết tiền mua đá sạch cho cơ sở sản xuất thông qua nhân viên giao hàng. Theo như thống kê của chị T với H và bản thân H khai nhận thì H đã chiếm đoạt số tiền 4.960.000đ (bốn triệu chín trăm sáu mươi nghìn đồng) từ việc T tiền của cơ sở này các tháng 8,9,10/2020.

21. Xác minh tại nhà hàng Trọng Khách ở địa chỉ số 161/65 phố Hoa Lâm, phường Việt Hưng, Long Biên, Hà Nội qua làm việc với chị Phạm Thị Vân - SN: 1976; HKTT: tổ 6, phường Việt Hưng, quận Long Biên là chủ quán trình nhà hàng đã thanh toán toàn bộ tiền tiêu thụ đá sạch cho cơ sở đá sạch Trung Nghĩa thông qua nhân viên giao hàng. Theo như thống kê của chị T với H và bản thân H khai nhận thì H đã chiếm đoạt số tiền 6.744.000đ (sáu triệu bảy trăm bốn bốn nghìn đồng) từ việc T tiền của cơ sở này các tháng 8,9,10/2020 và tháng 3/2021.

Đối với các cơ sở tiêu thụ khác theo chị T thống kê và H khai nhận bao gồm: Quán Trống Đồng, quán Cafe Trung Nguyên, quán ăn Savico, quán nước phố Đoàn Khuê, quán Đông Phương, quán phở gà, quán tầng hầm Savico, quán layla, quán MQ, quán 194 là các cơ sở đã dừng hoạt động và là khách lẻ đến lấy không rõ địa chỉ thì H và chị T đã thống kê số tiền H chiếm đoạt từ việc T tiền của các cơ sở trên là: 10.992.000đ (mười hai triệu chín trăm chín hai nghìn đồng). Tuy nhiên đến thời điểm hiện tại các cơ sở kinh doanh như quán cà phê Trung Nguyên, quán MQ, quán Đông Phương hiện đã dừng hoạt động từ tháng 6/2021. Đối với các cơ sở kinh doanh còn lại chị T và H không nhớ rõ thông tin khách hàng nên Cơ quan điều tra không làm rõ được số tiền mà họ đã thanh toán với H hay chưa do đó không đủ cơ sở kết luận hành vi Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt số tiền này đối với Đoàn Văn H.

Ngày 20/2/2023, Đoàn Văn H đã đến Công an quận Long Biên để đầu thú về hành vi phạm tội của mình và khai nhận toàn bộ nội dung diễn biến hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Long Biên xác định Xưởng nước đá dùng liền Trung Nghĩa Tộc Công ty TNHH thương mại L do ông Lê Đình K- SN: 1981, HKTT: Số 76/24 đường Ngọc Lâm, phường Ngọc Lâm, quận Long Biên, Hà Nội làm giám đốc. Ông Khương đã ủy quyền cho ông Trần Như Đ- SN: 1985, HKTT: Tổ 7 phường Việt Hưng, quận Long Biên, Hà Nội chịu trách nhiệm toàn bộ đối với xưởng đá Trung Nghĩa ( Ông Đô là chồng bà Đào Phương T). Ngày 09/3/2022 ông Đô đã ủy quyền lại cho bà T giải quyết toàn bộ vấn đề liên quan đến việc giải quyết hành vi chiếm đoạt tài sản của Đoàn Văn H xảy ra tại xưởng nước đá dùng liền Trung Nghĩa.

Bà Lê Thị P- SN: 1967, HKTT: Thôn Bích Sơn, xã Gia Vân, Gia Viễn, Ninh Bình là mẹ đẻ của bị can Đoàn Văn H đã tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường toàn bộ số tiền 101.653.000đ cho người bị hại là chị Đào Phương T. Chị T không có yêu cầu gì về dân sự. Ngày 15/3/2023, chị T có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Đoàn Văn H.

Tại bản cáo trạng số: 109/CT-VKS ngày 05/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên truy tố đối với bị cáo Đoàn Văn H về tội: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo điểm c Khoản 2 Điều 175 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản cáo trạng, sau khi phân tích đánh giá nội dung vụ án, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng đối với:

+ Bị cáo Đoàn Văn H: Điểm c Khoản 2 Điều 175 Bộ luật Hình sự về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s điểm b Khoản 1, Khoản 2( bị cáo ra đầu thú) điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự và đề nghị xử phạt mức án từ: 26(hai sáu) tháng đến: 30(ba mươi) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bắt 20/02/2023.

Không phạt tiền vì bị cáo không nghề ổn định;

Về trách nhiệm dân sự: Trong vụ án này bị hại đã nhận lại toàn bộ số tiền theo yêu cầu, không yêu cầu gì khác, nên không xét. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu gì.

Bị cáo pH nộp án phí theo quy định, các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn, phạm vi theo quy định của pháp luật.

Căn cứ các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Long Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo cũng như bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Đoàn Văn H đã khai nhận toàn bộ nội dung cũng như cách thức chiếm đoạt số tiền, bị cáo và bị hại mà trực tiếp là người sử dụng lao động là cơ sở sản xuất nước đá do anh Đô làm chủ xưởng, lợi dụng công việc khi bị cáo H đi T tiền các cơ sở mua đá sạch nợ tiền hoặc trả sau, có lần các cơ sở sử dụng tiêu thụ sản phẩm trả ngay, trả trực tiếp cho bị cáo nhưng cũng có lần nợ tiền hoặc trả tại xưởng, người trả tiền không cố định nên bị cáo đã lợi dụng kẽ hở này để chiếm đoạt số tiền T từ sản phẩm của 21 cơ sở tiêu thụ. Lời khai của các chủ cơ sở này cũng như bản nhận dạng, biên bản xác định các cơ sở này phù hợp với lời khai của bị cáo và của chị Đào Phương T.

Các giai đoạn bị cáo phạm tội:

+ Bị cáo Trong vụ án này có ký hợp đồng lao động ngày 29/4/2018, bị cáo H là lao động thời vụ, ngắn hạn làm nhiệm vụ giao nước đá dùng liền và T tiền, vào sổ sau đó báo lại cho chị Đào Phương T. Bắt đầu làm việc từ tháng 4 năm 2018 đến tháng 12 năm 2020 qua kiểm tra của chị T đã phát hiện bị cáo Đào Văn H không đưa trả chị 82.360.000đ(Tám mươi hai triệu ba trăm sáu mươi nghìn đồng) giữa chị và bị cáo cùng các cơ sở mua sản phẩm đối chiếu với nhau, bị cáo thừa nhận và tự viết Bản kiểm điểm (Bút lục 74), bản kiểm điểm này đã giám định và phù hợp với lời khai thừa nhận. Ngoài số tiền này thì bị cáo còn gộp số tiền vay của chị T 6.750.000đ(Sáu triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) số tiền này là nằm ngoài tiền T sản phẩm. Bị cáo đã thỏa Tận chốt số tiền 82.360.000đ và 6.750.000đ thành số nợ chung 89.000.000đ và cam đoan sẽ làm việc T tiền để trả hết khoản này và không lấy tiền công. Sau đó trả chị T 6.750.000đ, số tiền còn xin nợ lại.

+ Đến tháng 3 và tháng 4 năm 2021 bị cáo lại tiếp tục chiếm đoạt 19.293.000đ(mười chín triệu hai trăm chín mươi ba nghìn đồng) của 23 cơ sở mua nước đá, bị cáo đã bỏ đi khỏi nơi làm, không dùng điện thoại và không có sự liên hệ với chị T.

Ngoài ra còn một số cơ sở T mua khác đã xác nhận bị cáo chiếm đoạt số tiền 10.992.000đ, nhưng số tiền này chị T không yêu cầu và một số cơ sở cửa hàng đã nghỉ hoặc chuyển chỗ khác không còn kinh doanh, chị T không yêu cầu và bị cáo cũng xác nhận.

Như vậy bị cáo Đoàn Văn H đã có hành vi: “Vay, mượn tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó” thủ đoạn lợi dụng công việc được giao.

Do đó bị cáo Đoàn Văn H đã phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là số tiền: 101.653.000đ(Một trăm lẻ một triệu sáu trăm năm mươi ba nghìn đồng) số tiền này đã được mẹ bị cáo là bà Lê Thị P khắc phục trả cho bị hại, bị hại đã nhận nay không có yêu cầu gì. Tội phạm và hình phạt quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều 175 Bộ luật Hình sự.

Hành vi này là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quan hệ sở hữu của người khác được pháp luật và nhà nước bảo vệ, bị nhà nước cấm. Nhưng bị cáo đã cùng gia đình khắc phục trả lại toàn bộ số tiền cho bị hại theo yêu cầu, tương đương với số tiền bị cáo đã chiếm đoạt, trong quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai nhận, thể hiện ăn năn hối cải, do đó bị cáo vẫn pH chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi chiếm đoạt số tài sản này. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm b(khắc phục hoàn toàn hậu quả) và Điểm s (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải) Khoản 1Điều 51 Bộ luật Hình sự

Về trách nhiệm dân sự trong vụ án này, tài sản đã T hồi trả lại cho bị hại, bị hại nhận lại, không có yêu cầu gì, nên không xét. Người liên quan là mẹ đẻ bị cáo tự nguyện khắc phục hậu quả theo yêu cầu của bị hại và không có ý kiến gì việc khắc phục này là tự nguyện không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền đã trả cho bị hại.

+ Hình phạt bổ sung là phạt tiền: Không áp dụng đối với bị cáo H vì bị cáo hiện chưa có công ăn việc làm T nhập ổn định.

Bị cáo Đoàn Văn H pH chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại, người đại diện theo pháp luật của bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định Pháp luật. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án có quyền kháng cáo về nội dung có liên quan đến mình trong bản án và theo thời hạn quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ : Điểm c Khoản 2 điều 175, Điều 38, Điểm s, điểm b khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ: Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, có hiệu lực từ ngày 01/01/2017 quy định mức án phí, lệ phí.

1/ Tuyên bố bị cáo: Đoàn Văn H phạm tội: “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

2/ Xử phạt: Bị cáo Đoàn Văn H: 36(ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/02/2023.

3/ Án phí các loại và Quyền kháng cáo:

Bị cáo Đoàn Văn H pH nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo những nội dung có liên quan đến mình trong bản án, hạn 15 ngày từ ngày nhận bản án hợp lệ. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày từ ngày nhận bản án hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ