vanban.org

Bản án 132/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 10, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 20/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Võ Đức H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Võ Đức H 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/6/2023. Phạt bổ sung 5.000.000 (năm triệu) đồng nộp ngân sách nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Đức Hiếu - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Võ Đức H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 132/2023/HS-ST
Ngày: 20-11-2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Quyết

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lâm Văn Quốc Trọng

2. Bà Trần Thị Ngọc Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Anh Tú – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa:

Ông Hoàng Văn Hoan – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 122/2023/TLST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Võ Đức H; sinh ngày: 26/10/1996 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Lập L, xã Lâm S, huyện Ninh S, tỉnh Ninh Thuận; Nơi cư trú: Không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Giao hàng; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Không rõ và bà: Võ Thị Thu T; tiền án, tiền sự: Ngày 11/9/2018, bị Toà án nhân dân huyện Trảng Bàng xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Bản án số 53/2018/HSST, bị cáo chấp hành án đến ngày 26/10/2020 hết án tha, chưa chấp hành án phí hình sự sơ thẩm; nhân thân: Ngày 25/4/2014, bị Toà án nhân dân huyện Hóc Môn xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, theo Bản án số 79/2014/HSST, bị cáo chấp hành án đến ngày 31/8/2015 được đặc xá tha, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 25/8/2014; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/6/2023 tại Nhà tạm giữ Công an Quận 10.

(Bị cáo có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông Lâm Quốc Đ,

Địa chỉ: Lô D chung cư Nhiêu L, phường Tân Q, quận Tân P, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 21 giờ 30 phút ngày 10/6/2023, tại trước số nhà 666/xx đường B, Phường C, Quận D, Tổ tuần tra 363 Công an Quận 10 phát hiện bị cáo Võ Đức H đang điều khiển xe môtô mang biển số 59D3-168xx có biểu hiện nghi vấn nên kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra, Tổ tuần tra phát hiện tại lưng quần phía trước bên phải của bị cáo H có 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu. Bị cáo H khai nhận, tinh thể không màu chứa trong gói nylon là ma túy tổng hợp của bị cáo cất giữ để sử dụng. Tổ tuần tra bàn giao bị cáo H cùng vật chứng cho Công an Phường 14 Quận 10 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 giải quyết theo thẩm quyền.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 trưng cầu giám định tinh thể không màu chứa trong gói nylon thu giữ của bị cáo Võ Đức H. Kết luận giám định số 6270/KL-KTHS ngày 19/6/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: Tinh thể không màu chứa trong gói nylon là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 8,5695 gram, loại Methamphetamine.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10, bị cáo Võ Đức H khai nhận: Ngày 08/6/2023, bị cáo mua ma túy của một người đàn ông (không rõ lai lịch) tại khu vực bến xe An S thuộc huyện Hóc M, với giá 2.000.000 đồng, cất giữ để sử dụng thì bị kiểm tra phát hiện, bắt giữ.

Vật chứng vụ án:

- 01 chiếc điện thoại di động hiệu Redme, có số thuê bao 0777382xxx, thu giữ của bị cáo H, không liên quan đến việc phạm tội. Theo yêu cầu của bị cáo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 đã giao lại tài sản cho bà Võ Thị Thu T, là mẹ của bị cáo H quản lý.

- 01 xe môtô mang biển số 59D3-168xx, số khung: RLHJC7XXX, số máy JC90E-0249XXX. Kết quả giám định số khung số máy không đổi. Xác minh xe, ông Lâm Quốc Đ là chủ sở hữu có đăng ký thường trú tại: Lô D, Chung cư Nhiêu L, phường Tân Q, quận Tân P, Thành Phố Hồ Chí Minh. Kết quả xác minh, ông Đ có đăng ký thường trú tại địa chỉ trên nhưng thực tế không cư trú tại địa phương, đi đâu không rõ. Bị cáo H khai mượn xe trên của một người bạn xã hội không rõ lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 đã đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng đến nay chưa có kết quả.

- 01 gói niêm phong, bên ngoài ghi số (1312/23 Q10) có chữ ký của Giám định viên Phan Tấn Quốc và Điều tra viên Nguyễn Thị Bích Ngọc, bên trong có 8,3281 gram ma túy, loại Methamphetamine, là ma túy còn lại sau giám định.

Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 có Quyết định chuyển các vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 chờ xử lý.

Tại bản Cáo trạng số 107/CT-VKSQ10 ngày 01 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố:

Bị cáo Võ Đức H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa hôm nay:

- Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo đúng theo nội dung bản Cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đối với xã hội và nêu lên tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải), tình tiết tăng nặng bị cáo đã bị kết án nhưng chưa được xoá án tích lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thuộc trường hợp tái phạm và nhân thân của bị cáo; đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo: Võ Đức H từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù, phạt tiền bổ sung từ 5.000.000 đến 10.000.000 đồng và đề nghị xử lý vật chứng.

- Ý kiến của bị cáo: Không có ý kiến gì tranh luận.

- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên thu thập; do bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Nhận định hành vi và điều khoản xét xử:

Tại Cơ quan điều tra, cũng như trước phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình, qua lời khai nhận của bị cáo, đối chiếu với lời khai của người làm chứng, vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án là phù hợp, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định bị cáo Võ Đức H đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý ở thể rắn có khối lượng 8,5695 gram, loại Methamphetamine. Do vậy, bị cáo Võ Đức H bị truy tố và xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Việc áp dụng hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm nghiêm trọng đến chế độ độc quyền của nhà nước về quản lý chất ma tuý, gây tác hại cho sức khoẻ, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội, an ninh quốc gia. Do vậy, hành vi phạm tội của bị cáo lần này cần phải bị xử phạt nghiêm minh bằng luật hình tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo gây ra, cụ thể cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo thành người tốt cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe, giáo dục đối với những người thực hiện hành vi tương tự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tệ nạn tại địa phương. Ngoài ra áp dụng khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) phạt bổ sung một số tiền nộp ngân sách nhà nước.

Về tình tiết tăng nặng Bị cáo đã bị kết án nhưng chưa được xoá án tích, lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thuộc trường hợp tái phạm. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017)

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:

Đối với 01 gói niêm phong, bên ngoài ghi số (1312/23 Q10) có chữ ký của Giám định viên Phan Tấn Quốc và Điều tra viên Nguyễn Thị Bích Ngọc, bên trong có 8,3281 gram ma túy, loại Methamphetamine, là vật cấm tàng trữ, lưu hành. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 tịch thu và tiêu huỷ.

Đối với 01 xe môtô mang biển số 59D3-168xx, số khung: RLHJC7XXX, số máy JC90E-0249XXX. Xét thấy đây là phương tiện của bị cáo sử dụng nhưng hiện không xác định ai là chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử quyết định giao Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 thông báo trong thời hạn 01 năm, kể từ ngày đăng báo để tìm chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp. Hết thời hạn 01 năm mà không tìm được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp đối với chiếc xe trên thì tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm g khoản 2,5 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

- Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và Điều 228 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên bố: Bị cáo Võ Đức H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Võ Đức H 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/6/2023.

Phạt bổ sung 5.000.000 (năm triệu) đồng nộp ngân sách nhà nước.

Tịch thu và tiêu hủy đối với 01 gói niêm phong, bên ngoài ghi số (1312/23 Q10) có chữ ký của Giám định viên Phan Tấn Quốc và Điều tra viên Nguyễn Thị Bích Ngọc, bên trong có 8,3281 gram ma túy, loại Methamphetamine, là ma tuý còn lại sau giám định.

Giao cho Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục thông báo với thời hạn 01 năm đối với chiếc xe mô tô mang biển số 59D3-168.xx, số khung: RLHJC7XXX, số máy JC90E-0249XXX, nhãn hiệu Honda, số loại: Futurefi, loại xe: Hai bánh từ 50-175 cm3; màu sơn: Xanh đen để chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp nếu có đến nhận. Hết thời hạn 01 năm kể từ ngày đăng báo mà không có ai là chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp liên hệ nhận thì tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 02/11/2023 giữa Công an Quận 10 và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10).

Buộc bị cáo Võ Đức H chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án.

Thời hạn kháng cáo là 15 ngày; đối với bị cáo Võ Đức H có mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày được giao hoặc ngày niêm yết bản án./.

Cỡ chữ