- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn S tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 132/2023/HS-ST Ngày: 19 – 06 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Nguyên Vũ
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Phi Hồng
2. Ông Trần Văn Điệp
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngọc Thị Ngoan - Thư ký tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:
Ông Đinh Tuấn Anh – Kiểm sát viên
Ngày 19 tháng 06 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 117/TLST-HS ngày 17 tháng 05 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 136/2023/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 06 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn S (tên gọi khác: C), sinh năm 1983, tại tỉnh Đồng Nai, nơi cư trú: Ấp T, xã P, huyện N, tỉnh Đ; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C (chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1965; vợ con chưa có; tiền án: Ngày 29/4/2021, bị TAND huyện N, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, đến ngày 27/9/2022, S chấp hành xong bản án; Tiền sự: không. Nhân thân: ngày 19/01/2009, bị UBND huyện N, tỉnh Đồng Nai quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh, cai nghiện bắt buộc trong thời gian 24 tháng, đến ngày 22/01/2011, chấp hành xong quyết định; Ngày 25/5/2012, bị TAND huyện N, tỉnh Đồng Nai xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, đến ngày 27/02/2017, chấp hành xong bản án; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 07/02/2023, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn S là đối tượng nghiện ma túy. Khoảng 08 giờ, ngày 07/02/2023, S đến khu vực trước cổng chùa H thuộc ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai mua của D (không rõ lai lịch) 07 tép heroin và 01 tép ma tuý đá với giá 1.200.000 đồng. S mang số ma tuý trên về nhà ở ấp T, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai sử dụng hết 01 tép heroin, số ma tuý còn lại S cho vào trong lọ nhựa tròn để trên tủ trong phòng khách. Đến 13 giờ ngày 07/02/2023, S bị Công an xã kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ: 06 đoạn ống hút nhựa được hàn kín hai đầu bên trong chứa chất màu trắng và 01 đoạn ống hút được hàn kín hai đầu bên trong chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng (đã được niêm phong); 01 lọ nhựa hình tròn của S dùng cất giấu ma tuý.
Tại kết luận giám định số 234/KL-KTHS ngày 14/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: Mẫu chất màu trắng (ký hiệu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng: 0,2168 gam, loại Heroin; Mẫu tinh thể màu trắng (ký hiệu M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng: 0,1204 gam, loại Methamphetamine. Tổng khối lượng của 02 mẫu vật là 0,3372 gam. Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng: M1= 0,1624 gam, M2= 0,0879 gam.
Quá trình điều tra, bị can Nguyễn Văn S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số: 122/CT.VKS-NT ngày 16/5/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Nguyễn văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị:
- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù;
- Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị: Tịch thu tiêu huỷ: 01 gói niêm phong chứa ma tuý sau giám định ký hiệu số 234/KL-KTHS ngày 14/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai và 01 lọ nhựa hình tròn.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố. Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn S không tranh luận với bản luận tội của Kiểm sát viên và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên toà ngày hôm nay bị cáo Nguyễn Văn S (sinh ngày 07/12/1983) có đủ năng lực trách nhiệm hình sự thừa nhận: Vào khoảng 08 giờ, ngày 07/02/2023, S đến trước cổng chùa H thuộc ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai mua của D (không rõ lai lịch) 07 tép heroin và 01 tép ma tuý đá với giá 1.200.000 đồng, mang về nhà ở ấp T, xã P, huyện N, tỉnh Đ sử dụng hết 01 tép heroin, số ma tuý còn lại S cho vào trong lọ nhựa tròn để trên tủ trong phòng khách. Đến 13 giờ ngày 07/02/2023, S bị Công an xã kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.
Tại kết luận giám định số 234/KL-KTHS ngày 14/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: Mẫu chất màu trắng (ký hiệu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý có khối lượng: 0,2168 gam loại Heroin và mẫu tinh thể màu trắng (ký hiệu M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý có khối lượng: 0,1204 gam loại Methamphetamine. Tổng khối lượng của 02 mẫu vật là 0,3372 gam.
Lời thừa nhận của bị cáo Nguyễn Văn S phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai nhân chứng và các chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Cho thấy lượng ma túy bị cáo Nguyễn Văn S tàng trữ, theo Kết luận giám định số: 234/KL-KTHS ngày 14/02/2023, có khối lượng: 0,2168 gam loại Heroin và 0,1204 gam loại Methamphetamine. Tổng khối lượng là 0,3372 gam (khối lượng từ 0,1gam đến dưới 05gam) và hành vi phạm tội của bị cáo đã được thực hiện xong.
Nên có đủ căn cứ kết luận: Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn S đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N truy tố bị cáo Nguyễn Văn S là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về nhân thân, tính chất mức độ của hành vi phạm tội và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo có 01 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; đã bị xử phạt về tội mua bán trái phép chất ma túy nhưng đã được xóa án tích; đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh, cai nghiện bắt buộc.
Tội phạm do bị cáo Nguyễn Văn S thực hiện là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của nhà nước về quản lý các chất ma túy và làm ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Việc tàng trữ sử dụng ma túy diễn ra hết sức phức tạp, lôi kéo nhiều người vào con đường nghiện ngập là nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm khác; bị cáo biết rõ việc tàng trữ để sử dụng chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì nghiện ma túy nên bị cáo vẫn thực hiện. Mặt khác bị cáo đã 02 lần bị xét xử về tội phạm ma túy và đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh, cai nghiện bắt buộc, nhưng nay lại tiếp tục phạm tội, thuộc trường hợp tái phạm, do đó cần áp dụng tính tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h, khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xét xử nghiêm, cần thiết áp dụng hình phạt tù giam, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn S đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để thể hiện tính nhân đạo của chính sách pháp luật hình sự.
Xét lời luận tội của Viện kiểm sát về tội danh, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và mức hình phạt là phù hợp với nhận định trên nên chấp nhận.
. Về xử lý vật chứng:
- 01 gói niêm phong chứa ma tuý (0,1624 gam loại Heroin và 0,0879 gam loại Methamphetamine) sau giám định ký hiệu số 234/KL-KTHS ngày 14/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai và 01 lọ nhựa hình tròn Nguyễn Văn S đã tàng trữ trái phép để sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy là có căn cứ.
. Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính tù ngày 07/02/2023.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tịch thu 01 gói niêm phong chứa ma tuý (0,1624 gam loại Heroin và 0,0879 gam loại Methamphetamine) sau giám định ký hiệu số 234/KL-KTHS ngày 14/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai và 01 lọ nhựa hình tròn tiêu hủy.
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 25/05/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện N).
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn văn S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận - TA tỉnh - VKS, THA, CA - Bị cáo; - Lưu HS, VP | Trần Nguyên Vũ |