vanban.org

Bản án 132/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND Quận 6, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 22/08/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:

Buộc ông Trần Phước H có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP S số tiền vay còn thiếu theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 23/7/2019, tính đến ngày 22/8/2023 bao gồm: Nợ gốc: 36.751.327đồng (Ba mươi sáu triệu bảy trăm năm mươi mốt nghìn ba trăm hai mươi bảy đồng); Nợ lãi quá hạn: 31.962.813đ…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 132/2023/DS-ST
Ngày: 22/8/2023
V/v Tranh chấp về hợp
đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Nam

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Lưu Ly

2. Bà Phạm Thị Kim Hoàng

-Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thư Nhàn – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2023/TLST-DS ngày 06 tháng 02 năm 2023 về việc “Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2023/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 7 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 76/2023/QĐST-DS ngày 27 tháng 7 năm 2023; giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S;

Trụ sở: B Bà T, phường H, quận H, thành phố Hà Nội.

Địa chỉ liên lạc: Lầu H, 2 N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Gia T, sinh năm 1971; Địa chỉ liên lạc: Lầu D, B N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (ông Trần Gia T thay cho ông Phan Bảo N). (Văn bản ủy quyền ngày 11/8/2023); (có yêu cầu vắng mặt)

2. Bị đơn: Ông Trần Phước H, sinh năm 1978; (vắng mặt)

Địa chỉ: C T, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa, đại diện ủy quyền của nguyên đơn ông Phan Bảo N trình bày như sau:

Ngày 23/7/2019, căn cứ vào thu nhập của ông Trần Phước H, Ngân hàng TMCP S (sau đây viết tắt là Ngân hàng) và ông Trần Phước H đã ký Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (Bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ kiêm hợp đồng; Bản Điều khoản; Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), với hạn mức sử dụng thẻ tín dung là 30.000.000đồng, lãi suất tại thời điểm làm thẻ là 2,15%/tháng, mục đích sử dụng là tiêu dùng cá nhân, lãi suất nợ trong hạn là 2,6%/tháng, lãi suất nợ quá hạn là 3,9%/tháng (là bằng lãi suất nợ trong tháng 2,6%/tháng x 150%), đồng thời việc vay trên không có thế chấp tài sản và cũng không có tài sản đảm bảo.

Lãi được tính trên từng giao dịch phát sinh theo từng ngày và theo lãi suất Ngân hàng áp dụng vào từng thời điểm khác nhau theo Điều 22 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng; ngoài ra ông Trần Phước H còn phải chịu các khoản phí theo quy định.

Quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt vào ngày 23/7/2019 đến nay thì ông Trần Phước H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 119.016.395đồng. Trong khoảng thời gian này, ông Trần Phước H đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền là 96.877.200đồng, số tiền này được áp dụng theo thứ tự như sau: Các khoản phí, lãi của kỳ trước, giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước, giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước, các khoản phí, lãi trong kỳ, giao dịch rút tiền mặt của trong kỳ, giao dịch của mua hàng hóa trong kỳ.

Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở từ Ngân hàng nhưng ông Trần Phước H vẫn không có thiện chí trả nợ, do ông Trần Phước H vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 22/10/2021 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu vào thời điểm này là 36.751.327đồng làm nợ gốc, đồng thời áp dụng lãi suất quá hạn là 3,9%/tháng như trên đã trình bày.

Tính đến ngày 22/8/2023, ông Trần Phước H còn thiếu Ngân hàng số tiền là 68.714.140đồng, gồm các khoản sau: Nợ gốc là 36.751.327đồng và N1 lãi quá hạn là 31.962.813đồng. Phương thức thanh toán là một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, ngoài ra ông Trần Phước H có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh sau ngày 22/8/2023 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.

Bị đơn ông Trần Phước H vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến hay phản hồi.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 tham dự phiên tòa phát biểu ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật. Thời hạn chuẩn bị xét xử, thời hạn chuyển hồ sơ và việc giao giấy tờ cho đương sự, Viện kiểm sát là đúng quy định.

Về nội dung: Đề nghị, Hội đồng xét xử tuyên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Buộc ông Trần Phước H phải thanh toán tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 22/8/2023 là 68.714.140đồng và tiền lãi phát sinh từ ngày tiếp theo cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo lãi suất quy định tại hợp đồng đã ký.

Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo qui định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận, lời khai tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng, thời hiệu khởi kiện, quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án:

. Về tố tụng: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S có ông Trần Gia T là đại diện ủy quyền có đơn xin vắng mặt. Mặc dù, Tòa án đã tống đạt văn bản theo đúng qui định nhưng bị đơn ông Trần Phước H vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến phản hồi. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định pháp luật tố tụng dân sự.

. Về tư cách người đại diện theo ủy quyền của các đương sự: Căn cứ vào các văn bản ủy quyền thể hiện việc ủy quyền của các đương sự tham gia tố tụng là đúng quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

. Về quan hệ tranh chấp: Qua nghiên cứu nội dung vụ án xét thấy ông Trần Phước H theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dung còn nợ Ngân hàng số tiền gốc và lãi còn thiếu, nên Ngân hàng TMCP S yêu cầu Tòa án tuyên buộc ông Trần Phước H phải thánh toán theo các hợp đồng trên. Do đó, đây là tranh chấp về hợp đồng vay tái sản được quy định tại Khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn ông Trần Phước H cư trú tại C T, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 ; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

. Về thời hiệu khởi kiện vụ án: Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng trên được ký kết ký kết giữa hai bên vào ngày 23/7/2019, do ông Trần Phước H vi phạm nghĩa vụ thánh toán nên đến ngày 22/10/2021 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu làm nợ gốc. Mặt khác, đến ngày 13/6/2023 Ngân hàng khởi kiện tại Tòa án là còn thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 429 của Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 184 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, đồng thời không có đương sự nào yêu cầu áp dụng thời hiệu nên là còn thởi hiệu khởi kiện.

[2]. Về nội dung vụ án:

. Xét Giấy đề nghị cấp thẻ kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 23/7/2019 thể hiện ông Trần Phước H và Ngân hàng phát sinh việc vay tài sản; cụ thể từ ngày kích hoạt thẻ vào ngày 23/7/2019 đến nay thì ông Trần Phước H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền vay là 119.016.395đồng; với lãi suất thỏa thuận như sau: lãi suất tại thời điểm làm thẻ là 2,15%/tháng, mục đích sử dụng là tiêu dùng cá nhân, lãi suất nợ trong hạn là 2,6%/tháng, lãi suất nợ quá hạn là 3,9%/tháng (là bằng lãi suất nợ trong tháng 2,6%/tháng x 150%). Do đó, điều này đủ cơ sở xác định hai bên đã xác lập giao dịch về hợp đồng vay tài sản, bên cho vay là Ngân hàng và bên vay là ông Trần Phước H.

Theo lời trình của đại diện của Ngân hàng, đồng thời căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cho thấy ông Trần Phước H đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền là 96.877.200đồng (số tiền này được áp dụng theo thứ tự như sau: Các khoản phí, lãi của kỳ trước, giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước, giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước, các khoản phí, lãi trong kỳ, giao dịch rút tiền mặt của trong kỳ, giao dịch của mua hàng hóa trong kỳ). Sau đó, do ông Trần Phước H vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 22/10/2021 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu vào thời điểm này là 36.751.327đồng làm nợ gốc, đồng thời áp dụng lãi suất quá hạn là 3,9%/tháng.

Tính đến ngày 22/8/2023, ông Trần Phước H còn thiếu Ngân hàng số tiền là 68.714.140đồng, gồm các khoản sau: Nợ gốc là 36.751.327đồng và N1 lãi quá hạn là 31.962.813đồng. Vì vậy, do ông Trần Phước H vi phạm nghĩa vụ thanh toán, nên Ngân hàng yêu cầu ông Trần Phước H có trách nhiệm thanh toán toàn bộ số tiền nợ 68.714.140đồng là phù hợp theo quy định tại Điều 91 và Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng.

[2.2.]. Về thời thanh toán: Ngân hàng yêu cầu ông Trần Phước H trả làm một lần sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, vì số nợ này đã kéo dài nên ảnh hưởng đến việc kinh doanh của Ngân hàng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy căn cứ vào quy định về nghĩa vụ trả nợ của bên vay thì bên vay tiền phải trả đủ tiền khi đến hạn, nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn.

Ngoài ra, Ngân hàng còn yêu cầu ông Trần Phước H có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh sau ngày 22/8/2023 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng hai bên thỏa thuận là có cơ sở.

. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật và đồng thời hoàn trả số tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 357; Điều 463; khoản 5 Điều 466; Điều 468 và Điều 470 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 91 và Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng;

Căn cứ vào Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:

Buộc ông Trần Phước H có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP S số tiền vay còn thiếu theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 23/7/2019, tính đến ngày 22/8/2023 bao gồm: Nợ gốc: 36.751.327đồng (Ba mươi sáu triệu bảy trăm năm mươi mốt nghìn ba trăm hai mươi bảy đồng); Nợ lãi quá hạn: 31.962.813đồng (Ba mươi mốt triệu chín trăm sáu mươi hai nghìn tám trăm mười ba đồng); Tổng cộng: 68.714.140đồng (Sáu mươi tám triệu bảy trăm mười bốn nghìn một trăm bốn mươi đồng).

Thanh toán số tiền trên làm một lần sau khi án có hiệu lực pháp luật.

2. Về trách nhiệm thi hành án: Các bên thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6, T1 phồ Hồ Chí Minh.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất sẽ được tiếp tục điều chỉnh tại giai đoạn thi hành án.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần Phước H phải chịu án phí là 3.435.707đồng (Ba triệu bốn trăm ba mươi lăm nghìn bảy trăm lẽ bảy đồng).

Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.354.748đồng (Một triệu ba trăm năm mươi bốn nghìn bảy trăm bốn mươi tám đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0012921 ngày 06/02/2023.

4. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Đương sự được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án. Viện kiểm sát được quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ