vanban.org

Bản án 132/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Hoài Đức, TP. Hà Nội Tuyên án 19/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Q 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "nguyễn văn quân - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 140 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HOÀI ĐỨC
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 132/2022/HSST
Ngày: 19/12/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán -Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Lan Anh.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vũ Nguyên Lâm;

2. Bà Nguyễn Thị Thêm;

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Chung -Thư ký Toà án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Việt - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 140/2022/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 142/2022/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2022 đối với:

- Bị cáo: Nguyễn Văn Q, sinh ngày 12 tháng 02 năm 1985 tại Hà Nội; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi thường trú: Thôn 2 xã Thạch Hòa, huyện Thạch Thất, Hà Nội; Nơi ở: Thôn 1 xã Thạch Hòa, huyện Thạch Thất, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị X; Vợ Đinh Thị Ng và 02 con; Tiền án, tiền sự: không; Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt).

- Bị hại: Anh Lê Hoàng D, sinh năm: 1986; HKTT: Số 6 Ngõ 91 Nguyễn Văn Trỗi, phường Phương Liệt, quận Thanh Xuân, Hà Nội. (Có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Đức Qng – sinh năm 1996; Cư trú: Thôn Lai Xá, xã Kim Chung, huyện Hoài Đức, Hà Nội. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 13/6/2022, anh Lê Hoàng D đến Công an huyện Hoài Đức tố giác Nguyễn Văn Q có hành vi chiếm đoạt tài sản gồm 13 bộ điều hòa và 01 máy giặt.

Quá trình điều tra xác định được như sau:

Khoảng tháng 3/2022, anh Lê Hoàng Dũng có nhu cầu sửa chữa điều hòa và máy giặt nên đã liên hệ với Nguyễn Văn Q. Ngày 03/3/2022, anh Dũng đã thuê anh Trần Xuân V (SN:1976; Nơi cư trú: Số 21 Nguyễn Văn Trỗi, phường Phương Liệt, quận Thanh Xuân, TP.Hà Nội) chở 13 bộ điều hòa và 01 máy giặt đến cửa hàng của Q có địa chỉ thôn Cát Ngòi, xã Cát Quế, huyện Hoài Đức, TP.Hà Nội để sửa chữa. Sau đó, anh D và Q thống nhất tiền sửa chữa là 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng) thì anh Dũng đã chuyển khoản cho anh Q số tiền 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng) và hẹn 10 ngày sau anh D lấy hàng về. Do cần tiền tiêu sài cá nhân nên Q nảy sinh ý định chiếm đoạt số tài sản của anh D bằng cách Q gọi điện cho anh Nguyễn Đức Qng để bán 13 bộ điều hòa và 01 máy giặt của anh D với giá 30.800.000 đồng, anh Qng đồng ý mua và đã chuyển khoản số tiền 30.800.000 đồng vào số tài khoản 001.100.432.0359 tại ngân hàng Vietcombank mang tên Nguyễn Văn Q. Sau đó, anh Qng đến cửa hàng của Q chở 13 bộ điều hòa và 01 máy giặt mang về. Anh Qng lên mạng xã hội facebook đăng bán 13 bộ điều hòa và 01 máy giặt thì có người hỏi mua nên anh Qng đã bán cho một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) với giá 32.000.000 đồng (Ba mươi hai triệu đồng). Do đã bán tài sản của anh D nên ngày 17/3/2022, Q gọi điện cho anh D nói dối là bị trộm cắp 13 bộ điều hòa và 01 máy giặt rồi Q thỏa thuận với anh D bồi thường số tiền 66.500.000 đồng (Sáu mươi sáu triệu năm trăm nghìn đồng) và hẹn trong vòng một tháng trả tiền. Sau đó, Q bỏ về nhà ở tại thôn 2, xã Thạch Hòa, huyện Thạch Thất, TP.Hà Nội ở và không liên lạc với anh D.

Vật chứng thu giữ:

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung galaxy M51, màu đen, có IMEI1: 353544564219400, IMEI2: 35354474219404. (Thu giữ của Q)

- Đoạn nhắn tin giữa Q và anh Qng qua zalo thể hiện nội dung mua bán 13 bộ điều hòa và 01 máy giặt.

- 51 tờ giấy A4 in hình ảnh gồm đoạn hội thoại qua Facebook do Lê Hoàng D cung cấp về việc trao đổi với Q sửa chữa 13 bộ điều hòa và 01 bộ máy giặt.

- Số tiền 1.200.000 đồng (Số tiền hưởng lợi của Qng khi bán tài sản).

Ngày 23/6/2022, Cơ quan CSĐT – Công an huyện Hoài Đức ra yêu cầu định giá số 113, định giá đối với các tài sản do Q chiếm đoạt.

Ngày 05/7/2022, Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Hoài Đức có kết luận số 330, kết luận:

+ 02 bộ điều hòa nhãn hiệu National công suất 17000 BTU trị giá: 10.000.000 đồng

+ 04 bộ điều hòa nhãn hiệu National công suất 13600BTU trị giá: 12.000.000 đồng

+ 03 bộ điều hòa nhãn hiệu National công suất 12200BTU trị giá: 8.800.000 đồng

+ 03 bộ điều hòa nhãn hiệu Fujitsu công suất 12000BTU trị giá: 8.200.000 đồng.

+ 01 bộ điều hòa nhãn hiệu Toshiba công suất 17000BTU trị giá: 4.040.000 đồng.

+ 01 máy giặt nhãn hiệu Toshiba Q780 trị giá 5.066.000 đồng

Tổng giá trị: 48.106.000 đồng (Bốn mươi tám triệu một trăm linh sáu nghìn đồng).

Quá trình điều tra xác định Nguyễn Đức Qng khi mua 13 bộ điều hòa và 01 máy giặt của Q thì Quang không biết đó là tài sản do Q chiếm đoạt của anh D. Do vậy, Cơ quan CSĐT – Công an huyện Hoài Đức không có căn cứ xử lý đối với anh Qng.

Đối với người đàn ông đã mua 13 bộ điều hòa và 01 máy giặt do anh Quang bán, Cơ quan CSĐT – Công an huyện Hoài Đức đã yêu cầu anh Qng cung cấp thông tin nhưng do anh Qng liên hệ bán qua facebook và tài khoản facebook đã bị mất nên anh Qng không có bất cứ một thông tin gì về người đàn ông đã mua tài sản. Do vậy, Cơ quan CSĐT – Công an huyện Hoài Đức không có căn cứ để xử lý.

Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Anh D yêu cầu Q phải trả 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng) tiền sửa chữa mà anh D đã chuyển cho Q và 66.500.000 đồng (Sáu mươi sáu triệu năm trăm nghìn đồng).

Tại bản Cáo trạng số 136/CT-VKSHĐ ngày 28/11/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Q về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn Q giữ nguyên lời khai như tại cơ quan điều tra, thừa nhận nội dung, tội danh mà Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng. Lời nói sau cùng, bị cáo Nguyễn Văn Q thành khẩn nhận tội, bày tỏ sự ăn năn, hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

Anh D tự nguyện không yêu cầu bị cáo thanh toán tiền công sửa chữa là 8.000.000 đồng, bị cáo và bị hại đã thỏa thuận từ giai đoạn điều tra về việc bị cáo có trách nhiệm thanh toán số tiền giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 66.500.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo đã thanh toán cho anh D số tiền là 20.000.000 đồng giá trị tài sản bị chiếm đoạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố Nguyễn Văn Q và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 175; điểm b, s, i khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q với mức án từ 15 đến 18 tháng tù. Buộc bị cáo thanh toán cho bị hại số tiền 46.500.000 đồng. Anh Qng không yêu cầu gì về dân sự nên không xét. Tịch thu sung công số tiền 1.200.000 đồng do anh Qng giao nộp và chiếc điện thoại thu giữ của bị cáo. Về án phí, bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Hoài Đức, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai báo toàn bộ hành vi phạm tội. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Về tội danh của bị cáo:

Do cần tiền tiêu sài cá nhân nên ngày 16/3/2022, tại cửa hàng của Nguyễn Văn Q có địa chỉ thôn Cát Ngòi, xã Cát Quế, huyện Hoài Đức, TP.Hà Nội, Q có hành vi thông qua việc nhận sửa chữa 13 bộ điều hòa và 01 máy giặt của anh Lê Hoàng D nhưng Q đã mang đi bán cho anh Nguyễn Đức Qng được số tiền là 30.800.000 đồng và nói dối với anh D là bị trộm cắp tài sản. Tổng giá trị tài sản mà Q chiếm đoạt của anh D là 48.106.000 đồng (Bốn mươi tám triệu một trăm linh sáu nghìn đồng).

Khi thực hiện hành vi, bị cáo là người thành niên, có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ, nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng lợi dụng lòng tin của người khác cố ý thực hiện hành vi phạm tội nhằm chiếm đoạt tài sản để có tiền tiêu sài cá nhân. Tại phiên toà, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người liên quan, người làm chứng, vật chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Q đã cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội đã truy tố và kết luận về hành vi phạm tội của bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật hình sự, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây tâm lý lo lắng trong nhân dân. Bị cáo đã lợi dụng lòng tin của người khác để chiếm đoạt tài sản của người bị hại. Việc truy tố và xét xử đối với bị cáo là rất cần thiết, cần xử lý trước pháp luật để giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và góp phần răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đây những tình tiết để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo được quy định tại điểm s, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền là 20.000.000 đồng, tuy nhiên số tiền bị cáo nộp là ít so với mức thiệt hại mà bị cáo đã gây ra nên bị cáo không được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 mà coi là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Do vậy, căn cứ nhân thân của bị cáo, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, yếu tố lỗi và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm đảm bảo việc cải tạo giáo dục riêng đối với bị cáo và đảm bảo công tác đấu tranh, phòng ngừa chung đối với toàn xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại - anh Lê Hoàng D tự nguyện không yêu cầu bị cáo thanh toán tiền công sửa chữa là 8.000.000 đồng. Sự tự nguyện của anh Dũng là phù hợp quy định pháp luật nên chấp nhận.

Anh Lê Hoàng D và bị cáo đã tự nguyện thỏa thuận về số tiền bồi thường thiệt hại là 66.500.000 đồng. Sự tự nguyện thỏa thuận này là phù hợp với quy định nên chấp nhận. Ghi nhận bị cáo đã bồi thường là 20.000.000 đồng, bị cáo tiếp tục phải thanh toán cho anh Dũng số tiền là 46.500.000 đồng.

Việc anh Nguyễn Đức Qng khi mua 13 bộ điều hòa và 01 máy giặt của Q, anh Qng không biết đó là tài sản do Q chiếm đoạt của anh D, do vậy, cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện Hoài Đức không có căn cứ xử lý là phù hợp.

Anh Qng tự nguyện giao nộp số tiền 1.200.000 đồng hưởng lợi từ việc bán tài sản nên tịch thu sung công nhà nước là phù hợp quy định pháp luật.

Anh Qng không yêu cầu gì về dân sự nên không xét.

Đối với người đàn ông đã mua 13 bộ điều hòa và 01 máy giặt do anh Qng bán, cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện Hoài Đức đã tiến hành xác minh nhưng không có căn cứ xử lý là phù hợp.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung galaxy M51 là tài sản của Q liên quan đến hành vi phạm tội nên tịch thu sung công nhà nước.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Q 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Bị cáo Nguyễn Văn Q có trách nhiệm thanh toán cho bị hại – anh Lê Hoàng Dũng về số tiền bồi thường thiệt hại là 66.500.000 đồng. Ghi nhận bị cáo đã thanh toán cho anh Dũng số tiền bồi thường là 20.000.000 đồng.

Bị cáo Nguyễn Văn Q còn phải tiếp tục thanh toán số tiền bồi thường thiệt hại cho anh Lê Hoàng D là 46.500.000 đồng.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu sung công nhà nước số tiền 1.200.000 (Một triệu hai trăm nghìn) đồng do anh Nguyễn Đức Qng giao nộp. (theo Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 29/11/2022 của Kho bạc nhà nước Hoài Đức, người nộp: Chu Công Q – Công an huyện Hoài Đức, đơn vị nhận tiền: Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Đức)

Tịch thu sung công nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung galaxy M51 màu đen đã qua sử dụng, imei1 353544564219400; imei2 35354474219404, bên trong có 01 thẻ sim, trên mặt thẻ sim có các số 898404800005369856. Pin bên trong máy bị phồng rộp làm kênh nắp lưng máy (Tình trạng máy không hoạt động, không kiểm tra chất lượng bên trong máy khi bàn giao).

(Vật chứng trên hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Đức, TP Hà Nội theo Quyết định chuyển vật chứng số 112/QĐ-VKS-HĐ ngày 28/11/2022 của VKSND huyện Hoài Đức và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/11/2022 giữa Công an huyện Hoài Đức, TP.Hà Nội và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Đức, TP.Hà Nội).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo Nguyễn Văn Q phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Bị cáo Nguyễn Văn Q, bị hại – anh Lê Hoàng D có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – anh Nguyễn Đức Qng vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo phần quyết định của bản án liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ