- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ban an H pham toi chua mai dam - phạm tội chứa mại dâm (điều 327 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban tH vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 327 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 132/2022/HSPT Ngày: 19- 8-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Như Hiển.
Các Thẩm phán:
Bà Trần Thị Hà.
Bà Nguyễn Thị Hương Giang.
- Thư ký phiên toà: Bà Trịnh Hoài Đức - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Trong ngày 19/8/2022 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 176/TLPT-HS ngày 22 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo Hoàng Thị H, do có kháng cáo của bị cáo Hoàng Thị H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2022/HSST ngày 16/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bắc Giang.
- Bị cáo có kháng cáo: Hoàng Thị H, sinh năm 1986; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Thôn Q, xã B, huyện V, tỉnh Yên Bái; Nghề ngH: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt N; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Con ông: Hoàng Văn B, sinh năm 1962; Con bà: Hà Thị T, sinh năm 1963; Chồng: Hoàng Kim Q, sinh năm 1982 (đã ly hôn); Con: Bị cáo có 03 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2018; Anh, chị em: Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai;
Tiền án, tiền sự: Không có;
Nhân thân: Năm 2016, bị Công an huyện V, tỉnh Yên Bái xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 20/01/2022, đến 26/01/2022 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
Ngoài ra trong vụ án còn một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 9/2021, H thuê đất của chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1976 ở thôn T, xã S, huyện H để mở quán “Cà phê, tẩm quất, mát xa Hương Ly”. H thuê X, H và Nguyễn Thị H, sinh năm 1983 ở thôn 3, xã B, huyện V, tỉnh Yên Bái làm nhân viên mát xa của quán. H thống nhất với X, H và H nếu khách có nhu cầu mua dâm thì H sẽ thu của khách 300.000 đồng, trong đó H lấy 100.000 đồng, còn 200.000 đồng sẽ đưa cho gái bán dâm. Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 20/01/2022, đối tượng tự khai tên Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn M và Đỗ Văn D, sinh năm 2006 ở thôn B, xã B, huyện H đến quán của H. M và N đặt vấn đề mua dâm thì H đồng ý. M và N mỗi người đưa cho H 300.000 đồng, H cầm tiền và bảo M vào phòng của X, N vào phòng của H để mua dâm. D không mua dâm mà chỉ mát xa nên đưa cho H 120.000 đồng, H cầm tiền và bảo D, H vào phòng H để mát xa. Đến khoảng 13 giờ 50 phút cùng ngày, khi M, X, H, N đang mua bán dâm thì bị lực lượng Công an bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ gồm:
- 01 hộp bao cao su bên trong có 07 chiếc bao cao su chưa sử dụng;
- 01 chiếc bao cao su đã sử dụng;
- 01 vỏ bao cao su đã bị xé,
- 03 điện thoại di động và số tiền 720.000 đồng.
Đối với Hoàng Thị X và Hà Thị H đều thừa nhận hành vi bán dâm của mình vào ngày 20/01/2022, X và H đều là nhân viên quán của H, nếu có khách mua dâm thì H sẽ thu 300.000 đồng/khách. Trong đó, H giữ lại 100.000 đồng và đưa cho gái bán dâm 200.000 đồng. Ngày 25/3/2022, Công an huyện H đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với H và Xa về hành vi “Bán dâm” (Bút lục 113-116).
Đối với Nguyễn Văn M và Nguyễn Văn N là các đối tượng mua dâm, tuy nhiên các đối tượng đã lợi dụng sơ hở của cán bộ trông giữ để bỏ trốn. Cơ quan điều tra tiến hành xác M tại địa phương như các đối tượng khai. Tuy nhiên, không có ai tên tuổi, địa chỉ như trên nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với chị Nguyễn Thị T cho H thuê địa điểm để mở quán “Cà phê, tẩm quất, mát xa Hương Ly”. Tuy nhiên, chị T không biết H chứa mại dâm nên không phạm tội.
Đối với Nguyễn Văn D và Nguyễn Thị H không có hành vi mua bán dâm nên không xử lý.
Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2022/HSST ngày 16/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bắc Giang đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 điều 327; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Hoàng Thị H 01 năm 02 tháng tù về tội “Chứa mại dâm” thời hạn tù, tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, nhưng được trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/01/2022, đến ngày 26/01/2022.
Ngoài ra bản án còn tuyên phần xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo, quyền thi hành án theo quy định.
Ngày 25/5/2022 bị cáo Hoàng Thị H kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo Hoàng Thị H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo của mình và trình bày: Bán án sơ thẩm xét xử bị cáo như vậy là nặng. Bị cáo phạm tội lần đầu, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khần khai báo, bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, một mình bị cáo nuôi 03 con nhỏ, có bố đẻ là người có công. Vì vậy mong hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Án sơ thẩm xử bị cáo là đúng người đúng tội và không oan. Bị cáo là người có nhân thân xấu nhưng không lấy đó làm bài học để rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục phạm tội. Án sơ thẩm đã xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo xử phạt bị cáo 01 năm 02 tháng tù là đã cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo được làm trong thời hạn kháng cáo theo đúng quy định tại Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự nên xác định là đơn kháng cáo hợp pháp, được chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Xét nội dung kháng cáo của bị cáo thấy:
+ Về tội danh: Hồi 13 giờ 50 phút ngày 20/01/2022, tại thôn Đoàn Kết, xã TH, huyện H, tỉnh Bắc Giang, Hoàng Thị H, sinh năm 1986 ở thôn Q, xã B, huyện V, tỉnh Yên Bái đang có hành vi chứa mại dâm các đối tượng mua bán dâm gồm Hà Thị H và Nguyễn Văn N, Hoàng Thị X và Nguyễn Văn M tại quán “Cà phê, tẩm quất, mát xa Hương Ly” do H quản lý ở thôn Đoàn Kết, xã TH Thắng, huyện H, tỉnh Bắc Giang thì bị tổ công tác Công an huyện H bắt quả tang.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Các lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với thời gian, địa điểm và vật chứng đã được thu giữ, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Do đó Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2022/HSST ngày 16/5/2022 xét xử đối với bị cáo Hoàng Thị H về tội “Chứa mại dâm” theo khoản 1 Điều 327 của Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
+ Về hình phạt: Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc chứa mại dâm là vi phạm pháp luật, nhưng do hám lời và coi tH pháp luật nên vẫn cố ý thực hiện. Ngoài ra bị cáo là người có nhân thân xấu, đã bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc” năm 2016 nhưng không rút ra bài học cho bản thân, mà thực hiện hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, chứng tỏ bị cáo là con người coi tH pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm khi xét xử đã xem xét các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân để lượng hình đối với bị cáo, xử phạt bị cáo 01 năm 02 tháng tù là phù hợp và khoan hồng đối với bị cáo. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo theo như đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cứ và đúng quy định.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Do bị cáo là người dân tộc thiểu số, cư trú ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban TH vụ Quốc hội.
Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Thị H, giữ nguyên bản án sơ thẩm:
2. Căn cứ khoản 1 điều 327; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Hoàng Thị H 01 năm 02 tháng tù về tội “Chứa mại dâm” thời hạn tù, tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, nhưng được trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/01/2022, đến ngày 26/01/2022.
3. Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban tH vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự phúc thẩm đối với bị cáo H.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bắc Giang; - Công an tỉnh Bắc Giang; - STP tỉnh Bắc Giang; - Cục THADS tỉnh Bắc Giang; - Cổng thông tin điện tử Tòa án; - CA-VKS-TA-CCTHADS sơ thẩm; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Như Hiển |