vanban.org

Bản án 132/2021/HSST — Hình sự

TAND TP. Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 23/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Văn Ph, Nguyễn Duy Tr, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Phạm Văn Ph 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tình từ ngày bị bắt 15/8/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn Ph- Nguyễn Duy Tr - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Văn Ph, Nguyễn Duy Tr, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ MÓNG CÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG NINH
Bản án số: 132/2021/HSST
Ngày: 23/11/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thanh Huệ.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thế Căn.

Bà Đinh Thanh Hoàn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Lâm, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Vũ Huy Long, Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 127/2021/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 132/2021/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2021 đối với các bị cáo:

1/ Họ và tên: Phạm Văn Ph (tên gọi khác: không); sinh ngày 23 tháng 7 năm 1990, tại: Thái Bình;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm 9, thôn Q, xã B, huyện VT, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Đình Ph, sinh năm: 1960 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 1964; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Chưa; bị bắt quả tang ngày 15/08/2021, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.

2/ Họ và tên: Nguyễn Duy Tr (tên gọi khác: không); sinh ngày 23 tháng 8 năm 1979, tại Thái Bình;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn X, xã NX, huyện VT, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Trọng K (đã chết) và bà Ngô Thị H, sinh năm: 1955; vợ: Trương Thị T, sinh năm: 1984; con: có 01 con, sinh năm 2002; tiền án, tiền sự: Chưa; đầu thú ngày 15/08/2021, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ, liên quan:

1/Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1985; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 4, thị trấn L, huyện T, tỉnh Lào Cai; chỗ ở: Tổ 1, khu Ph, phường D, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

2/Anh Phạm Văn T, sinh năm: 1980; nơi cư trú: Thôn H, xã B, huyện H, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.

-Người làm chứng: Chị Nhữ Thị Th, sinh năm 1969; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Đ, xã V, huyện G, tỉnh Hải Dương; chỗ ở: Khu 2, phường K, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.

- Người chứng kiến: Anh Hoàng Văn H, sinh năm: 2000; nơi cư trú: Khu 4, phường K, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 15/8/2021 Phạm Văn Ph đã rủ Nguyễn Duy Tr góp tiền mua ma túy về cùng nhau sử dụng và thống nhất mỗi người góp 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng), do Ph chưa có tiền nên Tr ứng ra 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đưa cho Ph đi mua ma túy, Ph sẽ trả lại cho Tr sau. Sau đó Ph gọi điện thoại cho người đàn ông tên D (không rõ lai lịch, địa chỉ) nhờ mua hộ ma túy. D đồng ý và hẹn Ph đến quán nước đối diện bến xe khách M (khu 2, phường K, thành phố M) để đưa tiền. Ph mượn xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu đỏ đen, biển kiểm soát: 14M1 - 048.85 của anh Nguyễn Văn Đ đi đến điểm hẹn để gặp và đưa cho D số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), vì số tiền không đủ nên D bảo đưa thêm 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) để mua ma túy. Ph gọi điện thoại cho Tr bảo gửi thêm cho Ph 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) qua số tài khoản 0551000281480 Ngân hàng Vietcombank của chị Nhữ Thị Th (chủ quán nước) để mua ma túy. Tr đồng ý và chuyển 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) vào số tài khoản của chị Th. Sau khi nhận được tiền, chị Th đưa lại cho Ph số tiền 470.000 (bốn trăm bảy mươi nghìn đồng), giữ lại 30.000đ (ba mươi nghìn đồng) tiền công chuyển khoản. Ph đưa cho D tổng số tiền 770.000đ (bảy trăm bảy mươi nghìn đồng). D nhận tiền rồi đi mua ma túy hết số tiền trên, Ph ngồi lại quán nước chờ D. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, D quay lại đưa cho Ph 01 (một) vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng bên trong có ma túy, rồi bỏ đi. Nhận được vỏ bao thuốc lá có ma túy nên Ph cất vào bên trong quần dài đang mặc. Khi chuẩn bị đi xe về lán công nhân, thì bị Tổ công tác của Công an phường K, thành phố M kiểm tra phát hiện, bắt quả tang. Vật chứng thu giữ của Ph: 01 (một) vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong có 01 (một) túi nilon miệng túi có khóa kẹp nhựa đựng 05 (năm) gói giấy màu trắng có dòng kẻ đều chứa chất bột màu trắng đục; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung gắn 02 sim số: 0947.981.933 và 0374.519.036 và 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu đỏ đen, biển kiểm soát 14M1 - 048.85.

Khi biết hành vi phạm tội của mình đã bị phát hiện, vào hồi 17 giờ 40 phút cùng ngày Nguyễn Duy Tr đầu thú tại Cơ quan Công an phường K và giao nộp 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng gắn sim số 0335.967.591 và 01 (một) Căn cước công dân số 034079003788 mang tên Nguyễn Duy Tr.

Tại Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 15/8/2021 thể hiện: Hồi 15 giờ 00 phút ngày 15/8/2021, Tổ công tác của Công an phường K, thành phố M đang tuần tra kiểm soát tại khu vực đối diện bến xe khách M thì phát hiện Phạm Văn Ph đang ngồi trên xe máy có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra hành chính và phát hiện, bắt quả tang Phạm Văn Ph có hành vi tàng trữ trái phép 05 gói giấy màu trắng bên trong chứa ma túy, Ph vừa nhờ một người tên D mua hộ để mang về cùng Nguyễn Duy Tr sử dụng.

Tại bản Kết luận giám định số 1573/KLGD ngày 23/8/2021, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, kết luận: Mẫu vật thu giữ của Phạm Văn Ph gửi giám định là ma túy, loại Heroine, khối lượng: 0,33g (không phẩy ba ba gam).

Quá trình điều tra Phạm Văn Ph và Nguyễn Duy Tr khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn Đ trong quá trình điều tra có lời khai thể hiện: Ngày 15/8/2021 bị cáo Ph mượn xe máy nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu đỏ đen, biển kiểm soát: 14M1 - 048.85 của anh để đi mua ma túy, nhưng anh không biết, Cơ quan Công an đã trả lại cho anh chiếc xe. Trong đơn xin xét xử vắng mặt anh không có yêu cầu gì liên quan đến chiếc xe.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Phạm Văn T trong quá trình điều tra có lời khai thể hiện: Năm 2020 anh có bán cho anh Nguyễn Văn Đ 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu đỏ đen, biển kiểm soát: 14M1 - 048.85 để sử dụng với giá 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng), việc mua bán thỏa thuận bằng miệng và anh đã giao giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô cho anh Đ. Vì đã bán chiếc xe trên, nên anh không còn liên quan và có đề nghị gì.

Người làm chứng chị Nhữ Thị Th có lời khai trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thể hiện: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 15/8/2021 chị cho Phạm Văn Ph mượn số tài khoản 0551000281480 ngân hàng Vietcombank để chuyển và rút số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) cho Ph. Việc Ph mượn số tài khoản ngân hàng của chị để chuyển tiền mua ma túy chị không biết.

Người chứng kiến anh Hoàng Văn H có lời khai thể hiện: Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 15/8/2021, anh được lực lượng Công an mời chứng kiến việc kiểm tra hành chính đối với Phạm Văn Ph, phát hiện và thu giữ 01 (một) vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong có 01 túi nilon trong suốt đựng 05 gói giấy màu trắng có dòng kẻ chứa Heroine. Ph khai nhận số ma túy trên nhờ một người tên D mua hộ, để sử dụng cùng với bạn nghiện ở lán công nhân xây dựng tên Tr với giá 800.000đ (tám trăm nghìn đồng).

Bản cáo trạng số: 130/CT - VKSMC ngày 28/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố M, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố các bị cáo Phạm Văn Ph, Nguyễn Duy Tr, về tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà: Các bị cáo Phạm Văn Ph, Nguyễn Duy Tr khai lại toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án và quá trình điều tra.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và luận tội đối với các bị cáo Phạm Văn Ph, Nguyễn Duy Tr. Sau khi phân tích nội dung vụ án, tính nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã đề nghị với Hội đồng xét xử:

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, riêng bị cáo Tr áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn Ph từ 18 (mười tám) tháng đến 21 (hai mươi mốt) tháng tù.

Bị cáo Nguyễn Duy Tr từ 15 (mười lăm) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù.

Đều về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 15/8/2021.

Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về vật chứng, xử lý vật chứng:

Áp dụng: Điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố Tụng hình sự.

-Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động Sam Sung gắn 02 sim thu giữ của Phạm Văn Ph; 01 (một) điện thoại di động Iphone màu trắng gắn sim thu giữ của Nguyễn Duy Tr.

Tịch thu tiêu hủy: 0,09g (không phẩy không chín gam) Heroine được hoàn lại sau giám định; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng; 01 (một) túi nilon.

Trả lại cho bị cáo Tr 01 (một) Căn cước công dân mang tên bị cáo.

Các bị cáo không tranh luận với lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát và nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Móng Cái, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Nhận định của Hội đồng xét xử về những chứng cứ xác định các bị cáo có tội. Đánh giá nội dung Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 15/8/2021; Biên bản tiếp nhận người phạm tội đầu thú ngày 15/8/2021; các lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa; lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng; người chứng kiến; trên cơ sở kết luận giám định số 1573/KLGĐ ngày 23/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh và các tài liệu, chứng khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 15/8/2021 tại khu vực đối diện bến xe khách M thuộc khu 2, phường K, Phạm Văn Ph đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,33g (không phẩy ba ba gam) ma túy Heroine, để sử dụng cùng Nguyễn Duy Tr thì bị phát hiện, bắt quả tang.

Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi do lỗi cố ý, xâm phạm đến chính sách của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Do đó, hành vi nêu trên của các bị cáo Phạm Văn Ph và Nguyễn Duy Tr đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Như vậy, quan điểm truy tố và luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái là có căn cứ pháp lý.

Xét tính chất, mức độ của hành vi là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự, an ninh xã hội ở địa phương. Đây còn là nguyên nhân gây các loại tội phạm khác, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Mặc dù nhận thức rõ tác hại của ma túy, nhưng để thỏa mãn nhu cầu nghiện ma túy của bản thân các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi. Vì vậy, cần xử lý nghiêm và cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian, mới có thể cải tạo các bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời phục vụ công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, phòng ngừa chung.

Xét vai trò của các bị cáo: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn. Trong đó bị cáo Ph là người khởi xướng, bàn bạc và là người trực tiếp đi mua ma túy về sử dụng nên giữ vai trò chính. Bị cáo Tr là người góp và ứng tiền ra để mua ma túy, vì vậy giữ vai trò thấp hơn. Do đó, bị cáo Ph phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo Tr.

Về áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt bổ sung.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó cần cho các bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo Tr sau khi phạm tội, bị cáo đã ra đầu thú, do đó cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy các bị cáo không có công việc ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về vật chứng và xử lý vật chứng: 01 (một) điện thoại di động Sam Sung gắn 02 sim số: 0947.981.933 và 0374.519.036 thu giữ của Phạm Văn Ph; 01 (một) điện thoại di động Iphone màu trắng gắn sim số: 0335.967.591 thu giữ của Nguyễn Duy Tr là phương tiện các bị cáo dùng vào việc liên lạc, trao đổi mua ma túy nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

- 0,09 gam (không phẩy không chín gam) Heroine được hoàn lại sau giám định kèm theo kết luận giám định số 1573/KLGĐ ngày 23/8/2021 chứa trong một phong bì số 1573/GĐMT được niêm phong theo đúng quy định, là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định.

- 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng; 01 (một) túi nilon trong suốt, miệng túi có khóa kẹp nhựa không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

- 01 (một) Căn cước công dân số 034079003788 mang tên Nguyễn Duy Tr do Cục Cảnh sát QLHC về TTXH cấp ngày 04/02/2020 không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo Tr.

Về nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Liên quan trong vụ án có người tên D đã mua ma túy giúp Ph, quá trình điều tra không xác minh được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý.

Đối với chị Nhữ Thị Th không biết việc Ph mượn tài khoản Ngân hàng của mình để chuyển tiền mua ma túy nên không đề cập xử lý.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius BKS 14M1 - 048.85 thuộc sở hữu của anh Nguyễn Văn Đ, anh Đ không biết Phan sử dụng xe vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Đức chiếc xe.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Văn Ph, Nguyễn Duy Tr, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Phạm Văn Ph 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tình từ ngày bị bắt 15/8/2021.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy Tr 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tình từ ngày bị tạm giữ 15/8/2021.

2. Về vật chứng và xử lý vật chứng:

Áp dụng: Điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

-Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động Sam Sung gắn 02 sim số: 0947.981.933 và 0374.519.036 thu giữ của Phạm Văn Ph; 01 (một) điện thoại di động Iphone màu trắng gắn sim số: 0335.967.591 thu giữ của Nguyễn Duy Tr.

- Tịch thu tiêu hủy: 0,09 gam (không phẩy không chín gam) Heroine được hoàn lại sau giám định chứa trong 01 phong bì số 1573/GĐMT được niêm phong theo đúng quy định; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng; 01 (một) túi nilon trong suốt, miệng túi có khóa kẹp nhựa.

- Trả lại bị cáo Tr 01 (một) Căn cước công dân số 034079003788 mang tên Nguyễn Duy Tr do Cục Cảnh sát QLHC về TTXH cấp ngày 04/02/2020.

(Vật chứng trên hiện do Chi cục thi hành án dân sự thành phố M quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng số 08/2022/THA, ngày 29/10/2021).

3. Về án phí:

Áp dụng: Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Phạm Văn Ph, Nguyễn Duy Tr mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Áp dụng: Khoản 1, khoản 4 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Án xử sơ thẩm công khai, có mặt các bị cáo, báo cho các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Quảng Ninh;

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

- VKSND tỉnh Quảng Ninh;

- VKSND thành phố Móng Cái;

- Công an Tp Mãng C¸i;

- Cơ quan Thi hành án Hình sự;

- Cơ quan Thi hành án Dân sự;

- Các bị cáo;

Đỗ Thị Thanh Huệ -Người có QLNVLQ;

- Lưu án văn;

- Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Thanh Huệ Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Quảng Ninh;

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

- VKSND tỉnh Quảng Ninh;

- VKSND thành phố Móng Cái;

- Công an Tp Mãng C¸i;

- Cơ quan Thi hành án Hình sự;

- Cơ quan Thi hành án Dân sự;

- Các bị cáo;

Đỗ Thị Thanh Huệ -Người có QLNVLQ;

- Lưu án văn;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Cỡ chữ