- Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN VĂN T, sinh năm 1973 tại huyện P, tỉnh Thái Nguyên, tên gọi khác: không. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm V, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên…"
- Tòa quyết gì? 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 132/2021/HS-ST Ngày: 29 - 9 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Giang
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông: Nguyễn Văn Hợi
Bà: Nguyễn Thị Minh
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Minh Hải - Thư ký Tòa án nhân dân
huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên tham
gia phiên tòa: Ông Trần Anh Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2021, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân
huyện P, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 125/2021/TLST-HS, ngày 10/9/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 135/2021/QĐXXST-HS ngày 17/9/2021, đối với bị cáo:
Họ và tên: NGUYỄN VĂN T, sinh năm 1973 tại huyện P, tỉnh Thái
Nguyên, tên gọi khác: không. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm V, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn L và bà: Vũ Thị N. Có vợ Nguyễn Thị T và có 02 con, con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2012. Gia đình bị cáo có ba anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình. Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Ngày 26/4/2016 bị cáo bị Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/6/2021 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
(Có mặt tại phiên tòa).
- Người chứng kiến:
1. Anh Tạ Văn T, sinh năm 1975
Trú tại: Xóm L, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
1
(Vắng mặt tại phiên tòa)
2. Anh Hoàng Văn K, sinh năm 1984
Trú tại: Xóm L, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
(Vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại
phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 17/6/2021, tổ công tác của Công an xã T,
huyện P phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn T đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy tại khu vực Xóm L, xã T. T đã tự giác lấy từ trong túi áo ngực bên trái ra 01 gói giấy bạc bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng, T khai đó là ma túy Heroine của T cất giấu để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong thu giữ vật chứng vào bì thư ký hiệu A rồi bàn giao T đến Công an huyện P để điều tra theo thẩm quyền.
Hồi 10 giờ 00 phút ngày 18/6/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an
huyện P tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn T tại Xóm V, xã T, huyện P, kết quả khám xét: không thu giữ gì.
Hồi 19 giờ 10 phút ngày 17/6/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an
huyện P phối hợp với Phòng kỹ thuật hình sự, công an tỉnh Thái Nguyên, có sự tham gia của Viện kiểm sát huyện P đã tiến hành cân xác định khối lượng chất bột màu trắng (nghi là Heroine) thu giữ của Nguyễn Văn T có khối lượng là 0,152 gam. Niêm phong trong phong bì kí hiệu A2 gửi giám định.
Tại Kết luận giám định số 1034/KL-KTHS ngày 25/6/2021 của Phòng
kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, kết luận: Chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A2 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,152 gam.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn T khai nhận như sau: Bản thân T là
người nghiện chất ma túy nên thường xuyên phải mua ma túy về sử dụng. Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 17/6/2021, T đi bộ một mình từ nhà đến khu vực Cầu Mới thuộc tổ dân phố Úc Sơn, thị trấn Hương Sơn, huyện P để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Tại đây, T gặp và mua được của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy loại Heroine với giá 200.000 đồng. T cất giấu vào túi áo ngực bên trái đang mặc rồi đi bộ về nhà để sử dụng. Khi T đi đến khu
2
vực Xóm L, xã T, huyện P thì bị tổ công tác của Công an xã T, huyện P phát hiện bắt quả tang.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận rõ hành vi phạm tội như
đã khai tại Cơ quan điều tra và bản cáo trạng nêu trên.
Bản cáo trạng số 136/CT-VKSPB, ngày 09/9/2021 của Viện kiểm sát
nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, trong phần tranh luận vị đại diện Viện Kiểm sát
nhân dân huyện P đã trình bày lời luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma
túy”. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 18 đến 24 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo; về xử lý vật chứng cần tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu; buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Trong phần tranh luận, bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử là không
oan, đúng người, đúng tội. Lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt thấp nhất để bị cáo có cơ hội sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện
P; Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện P; Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo đã khai nhận
toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Bị cáo thừa nhận do nghiện ma tuý nên đã tàng trữ ma tuý trong người để sử dụng cho bản thân không bán lại cho ai, không nhằm mục đích gì khác. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong, cân xác định trọng lượng ma túy, kết luận giám định, phù hợp với lời khai người tham gia tố
3
tụng khác và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định:
Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 17/6/2021, tại khu vực Xóm L, xã T, huyện
P, Nguyễn Văn T là người nghiện chất ma túy đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,152 gam chất ma túy loại Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an xã T, huyện P phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma
tuý, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật viện dẫn nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích
mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…
c) Heroine....có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến
500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản".
Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy
hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý và sử dụng các chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an ở địa phương, là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn
năn hối cải. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra bố đẻ bị cáo là ông Nguyễn Văn L được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Về nhân thân: bị cáo có nhân thân xấu, ngày 26/4/2016 bị cáo bị Công an
huyện P, tỉnh Thái Nguyên quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
4
Xét thấy cần có một mức án tương xứng với tội trạng mà bị cáo gây ra
và cần thiết cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội đồng thời răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ
sơ vụ án và xác minh lời khai của bị cáo tại phiên tòa, xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều
106 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xử lý vật chứng như sau:
Đối với vật chứng là 01 (một) bì niêm phong còn nguyên vẹn dán kín có
dấu đỏ ký hiệu A2, ngoài bì thư có ghi hoàn trả 0,136 gam ma túy hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A2 vụ Nguyễn Văn T cần tịch thu tiêu hủy.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội đối với bị
cáo như đề nghị về tội danh, điều luật áp dụng, xử lý vật chứng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật cần chấp nhận.
Về tạm giam bị cáo sau khi tuyên án: Căn cứ vào Điều 329 của Bộ
luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử ra Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Văn T với thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
Về nguồn gốc số ma túy: Nguyễn Văn T khai mua của một người
đàn ông không quen biết ở khu vực Cầu Mới, thuộc tổ dân phố Úc Sơn, thị trấn Hương Sơn, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Quá trình điều tra do không xác định được lai lịch địa chỉ của người đàn ông trên nên cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra xử lý.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm
để nộp ngân sách nhà nước.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy
định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều
51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật hình sự. Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
5
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái
phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt chính: Xử phạt Nguyễn Văn T 01 (một) năm 06 (sáu)
tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/6/2021.
3. Về tạm giam bị cáo sau khi tuyên án: Quyết định tạm giam bị cáo
Nguyễn Văn T với thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
4. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) bì niêm phong còn nguyên vẹn dán kín có dấu đỏ ký hiệu A2,
ngoài bì thư có ghi hoàn trả 0,136 gam ma túy hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A2 vụ Nguyễn Văn T
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/9/2021 giữa Công an
huyện P và Chi cục Thi hành án dân sự huyện P).
5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp
200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.
6. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt bị cáo Nguyễn Văn T,
báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKS ND tỉnh Thái Nguyên; - VKS ND huyện P; - Cơ quan điều tra CA huyện P; - CQTHAHS Công an huyện P; - Nhà tạm giữ Công an huyện P; - CC T.H.A DS huyện P; - Bị cáo; - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên; - Lưu: HS, VP, T.H.A HS./. 6 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Giang |