- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Lý Kim C về việc xin ly hôn anh Phan Hoàng Bảo L.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 132/2020/HNGĐ-ST Ngày 21 – 8 – 2020 Về việc xin ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thu. Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hà Trọng Tâm.
- Bà Nguyễn Thị Ngọc Điệp.
- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thúy Nguyên, là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Ngày 21 tháng 8 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 259/2020/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2020 về việc “xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 471/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lý Kim C – sinh năm 1988; Địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện N, tỉnh Cà Mau (có mặt).
Bị đơn: Anh Phan Hoàng Bảo L – sinh năm 1983; Địa chỉ: hẻm N, khóm H, phường M, thành phố C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn ngày 15/5/2020 và tại phiên tòa, chị Lý Kim C trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Phan Hoàng Bảo L chung sống vợ chồng và tổ chức đám cưới vào năm 2017, đến năm 2018 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Phú Tân, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn về quan điểm sống, tài chính, anh L không quan tâm cho gia đình và đã ly thân gần 01 năm, mỗi người có một cuộc sống riêng. Nay chị xét thấy cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, không còn tình cảm với anh L nên chị yêu cầu được ly hôn.
Về con chung: Có 01 con chung tên Phan Hoàng Bảo A – sinh ngày 29/10/2018, hiện cháu đang sống chung với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con, yêu cầu anh L cấp dưỡng theo quy định pháp luật.
Về tài sản chung: Chị xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị khai không nợ ai và không ai nợ lại anh chị.
- Đối với anh Phan Hoàng Bảo L, mặc dù đã được Tòa án niêm yết hợp lệ nhiều lần đến phiên tòa để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử vụ án nhưng anh L vẫn không có mặt để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Về tố tụng: Anh Phan Hoàng Bảo L đã được Tòa án niêm yết hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và phiên tòa xét xử theo quy định vào các ngày 08/6/2020, ngày 25/6/2020, ngày 13/7/2020, ngày 29/7/2020, ngày 21/8/2020 nhưng anh vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh L theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Chị Lý Kim C và anh Phan Hoàng Bảo L chung sống và tổ chức đám cưới vào năm 2017, đến năm 2018 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Phú Tân, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau nên hôn nhân hợp pháp và được pháp luật công nhận bảo vệ. Quá trình chung sống theo chị C trình bày vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn về quan điểm sống, tài chính, không quan tâm gia đình, mỗi người có một cuộc sống riêng. Nay chị xét thấy cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, không còn tình cảm với anh L nên chị yêu cầu được ly hôn. Đối với anh L không đến Tòa án theo giấy triệu tập, cũng không trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xét thấy: Chị C và anh L có phát sinh mâu thuẫn, chị C xác định không còn tình cảm với anh L và anh chị đã ly thân từ năm 2019, trong khi anh L cũng không có thiện chí hàn gắn vợ chồng, vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị C, cho chị được ly hôn anh L.
Về con chung: Anh chị có 01 người con chung tên Phan Hoàng Bảo A – sinh ngày 29/10/2018, hiện cháu đang sống chung với chị C. Khi ly hôn, chị C có yêu cầu được tiếp tục nuôi con. Xét thấy, hiện cháu Bảo Anh đang sống với chị C và chị C cũng có yêu cầu được tiếp tục nuôi con. Anh L không gửi văn bản cho Tòa án trình bày ý kiến về việc nuôi con nên Hội đồng xét xử thống nhất giao cháu Bảo A cho chị C tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh L không trực tiếp nuôi con được quyền đến thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị C yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật, anh L không nêu ý kiến về việc cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy: Cấp dưỡng nuôi con là trách nhiệm của cha mẹ, căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng nên mức đóng góp phí tổn nuôi dưỡng, giáo dục con với số tiền là 1.000.000đ/tháng và cũng phù hợp với yêu cầu của chị C nên Hội đồng xét xử cần buộc anh L cấp dưỡng nuôi cháu Bảo A mỗi tháng 1.000.000đ.
Về tài sản chung: Chị C xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập xem xét;
Về nợ chung: Chị C khai vợ, chồng không nợ ai và không ai nợ lại vợ, chồng nên không đặt ra xem xét.
Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, bị đơn phải chịu án phí cấp dưỡng theo quy định tại điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Lý Kim C về việc xin ly hôn anh Phan Hoàng Bảo L.
- Về con chung: Giao cháu Phan Hoàng Bảo A – sinh ngày 29/10/2018 cho chị Lý Kim C tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Phan Hoàng Bảo L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000đ cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày án có hiệu lực pháp luật, cấp dưỡng định kỳ hàng tháng.
Kể từ ngày chị C có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh L không tự nguyện thi hành xong khoản tiền cấp dưỡng, thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Anh L được quyền đến thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Chị C xác định không có.
- Về nợ chung: Chị C khai không có.
- Án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và gia đình, chị Lý Kim C phải chịu 300.000đ. Ngày 15 tháng 5 năm 2020, chị C đã dự nộp tiền tạm ứng án phí 300.000đ theo biên lai số 0001822 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau nên được đối trừ chuyển thu sung công quỹ nhà nước.
+ Án phí cấp dưỡng nuôi con anh Phan Hoàng Bảo L phải nộp 300.000đ (Chưa nộp).
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND Tp.Cà Mau; - UBND xã Phú Tân, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ, văn thư. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨMNơi nhận: THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Lê Thị Thu |