vanban.org

Bản án 132/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận anh Đặng Văn C và chị Trần Thị T1 là vợ chồng.

[2] Về con chung: Đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. [3] Về tài sản chung: Chưa yêu cầu Tòa án giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án"
  • Tòa quyết gì? [1] Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận anh Đặng Văn C và chị Trần Thị T1 là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VỊ THỦY
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 132/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 15 – 7 – 2020
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY

TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lư Trường Tây

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Bé Ngọc

Ông Huỳnh Văn Tuyển

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Phương Khánh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kiều Loan –Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 145/2020/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2020 về việc tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2020/QĐXXST–HNGĐ ngày 29 tháng 6 năm 2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Đặng Văn C, sinh năm 1978.

Địa chỉ: Ấp 03, thị trấn N, huyện V, tỉnh H (có yêu cầu xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Chị Trần Thị T1, sinh năm 1977.

Địa chỉ: ấp 03, thị trấn N, huyện V, tỉnh H (có yêu cầu xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Đặng Văn C trình bày:

Anh Đặng Văn C và chị Trần Thị T1 tổ chức lễ cưới và tự nguyện sống chung từ năm 1996 cho đến nay nhưng không đăng ký kết hôn.

Nguyên nhân mâu thuẫn: Vợ chồng thường xuyên cự cải, bất đồng quan điểm sống, cuộc sống chung không hạnh phúc nên vợ chồng đã ly thân hơn 02 năm nay. Hiện anh Đặng Văn C thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án cho anh được ly hôn với chị Trần Thị T1.

Về con chung: Có 02 người con tên Đặng Văn Hoài A, sinh năm: 1997 (Giới tính: Nam) và Đặng Thị Ngọc D, sinh ngày 13/5/2002 (Giới tính: Nữ) đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chưa yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Đã trả xong nợ Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Vị Thủy nên không yêu cầu.

Bị đơn chị Trần Thị T1 có lời khai trình bày: Thống nhất lời trình bày của anh Đặng Văn C về quan hệ hôn nhân, nguyên nhân mâu thuẫn, con chung, tài sản chung và nợ chung. Nay anh Đặng Văn C yêu cầu ly hôn thì chị Trần Thị T1 đồng ý, về con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, về tài sản chung chưa yêu cầu giải quyết và nợ chung đã trả xong nợ.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang phát biểu ý kiến như sau: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, thư ký, nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố không công nhận anh Đặng Văn C và chị Trần Thị T1 là vợ chồng. Về con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, về tài sản chung chưa yêu cầu giải quyết và nợ chung không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã thể hiện trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại tòa án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn Đặng Văn C và bị đơn chị Trần Thị T1 có yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn và bị đơn.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Anh Đặng Văn C yêu cầu ly hôn với chị Trần Thị T1 nên đây là vụ án hôn nhân và gia đình về tranh chấp ly hôn theo quy định tại các Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Đặng Văn C và chị Trần Thị T1 tổ chức lễ cưới năm 1996 nhưng không đăng ký kết hôn. Sau khi chung sống hạnh phúc một thời gian thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, thường xuyên cự cải, cuộc sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh Đặng Văn C yêu cầu Tòa án cho anh được ly hôn với Trần Thị T1. Theo quy định tại khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Trong trường hợp không có đăng ký kết hôn mà yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng”. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Đặng Văn C và chị Trần Thị T1.

Về con chung: Đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chưa yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Đã trả xong nợ Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Vị Thủy nên không yêu cầu.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh Đặng Văn C phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận anh Đặng Văn C và chị Trần Thị T1 là vợ chồng.

[2] Về con chung: Đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[3] Về tài sản chung: Chưa yêu cầu Tòa án giải quyết.

[4] Về nợ chung: Đã trả xong nợ Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Vị Thủy nên không yêu cầu.

[5] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn anh Đặng Văn C phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo lai thu số 0001048 ngày 26 tháng 5 năm 2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.

[6] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án niêm yết công khai tại Ủy ban nhân dân thị trấn nơi nguyên đơn, bị đơn cư trú.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ