vanban.org

Bản án 132/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủy Nguyên, TP. Hải Phòng Tuyên án 31/12/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu phong bì niêm phong số 464/2019/PC09 chứa toàn bộ vỏ bao gói và số ma túy còn lại sau giám định (Chi tiết tại Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16 tháng 12 năm 2019).

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn Dương phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu phong bì niêm phong số 464/2019/PC09 chứa toàn bộ vỏ bao gói và số ma túy còn lại sau giám định (Chi tiết tại Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16 tháng 12 năm 2019).
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 132/2019/HS-ST
Ngày 31-12-2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐHẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Nhã

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Doãn Văn Sáng

Ông Phạm Văn Sóng

-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên Thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Hà- Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 12 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 134/2019/TLST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 133 ngày 17 tháng 12 năm 2019 đối với bị cáo:

Bùi Văn D sinh năm 1990 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn R, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn H và bà Nguyễn Thị B; chưa có vợ con. Tiền án: Không; tiền sự: Quyết định số 259 ngày 25/7/2017 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với D trong thời hạn 18 tháng (chấp hành xong ngày 06/3/2019). Nhân thân: Bản án số 55 ngày 01/4/2014, Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/01/2014 (D chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/7/2016; nộp án phí ngày 08/5/2015 – đã xóa án tích). Bị bắt tạm giữ từ ngày 05/9/2019 đến ngày 11/9/2019 chuyển tạm giam. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do nghiện chất ma túy nên khoảng 07 giờ ngày 05/9/2019, D đi xe buýt từ nhà sang khu vực đường tàu nội thành Hải Phòng để mua ma túy về sử dụng. Tại đây D gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 10 gói ma túy, loại Heroine với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, D cất giấu vào túi quần phía trước bên trái đang mặc rồi đi xe buýt về huyện Thủy Nguyên tìm nơi sử dụng ma túy. Khi D về đến khu vực đường liên thôn thuộc thôn Rúp, xã T, huyện T, Hải Phòng thì bị Tổ công tác Đội 3, Đoàn Đặc nhiệm Phòng chống tội phạm ma túy số 1 – Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển kết hợp với Công an huyện Thủy Nguyên và Công an xã T làm nhiệm vụ tại khu vực thôn Rúp, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng phát hiện bắt giữ 10 gói giấy bên trong chứa chất bột màu trắng (nghi là chất ma túy). Tổ công tác đã đưa D cùng vật chứng về trụ sở Công an giải quyết.

Tại bản Kết luận giám định số 464/KLGĐ ngày 08/9/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Chất bột màu trắng trong 10 gói giấy thu của Bùi Văn D là chất ma túy, có khối lượng 0,9041gam, là loại Heroine.

Bản cáo trạng số 02/CT-VKS ngày 16 tháng 12 năm 2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên thành phố Hải Phòng đã truy tố Bùi Văn D về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo Điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Văn D khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên truy tố: Do nghiện ma túy nên bị cáo đã có hành vi đi mua ma túy và cất giấu trong người để sử dụng cho bản thân, bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật; bị cáo ăn năn hối hận và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Dđã có hành vi cất giấu trái phép Heroin có khối lượng 0,9041gam để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt xử phạt bị cáo Bùi Văn D từ 30 tháng đến 36 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong chứa chất ma túy còn lại sau giám định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thủy Nguyên và Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự tuy nhiên đã cất giữ trái phép chất ma túy, có khối lượng 0,9041 gam, là loại Heroin để sử dụng cho bản thân bị Công an phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo là cố ý, nghiêm trọng trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, được pháp luật bảo vệ, vi phạm luật quản lý chất ma túy, tiếp tay cho hoạt động mua bán trái phép chất ma túy và là nguyên nhân gây nên các loại tội phạm khác. Với hành vi nêu trên, bị cáo Dđã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng truy tố.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, nhân thân bị cáo có 01 tiền sự về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và 01 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tuy đã được xóa án tích nhưng thể hiện bị cáo có nhân thân xấu. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên có thể xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo có nhân thân xấu đã từng phải chấp hành hình phạt về tội Tàng trữ tráp phép chất ma túy nhưng bị cáo không rút ra bài học nghiêm khắc cho bản thân nay lại tiếp tục phạm tội thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo rất kém. Mặt khác, bị cáo còn thường xuyên sử dụng ma túy nên cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục cải tạo riêng bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét bị cáo không có tài sản riêng và không có thu nhập nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng, xử lý vật chứng: 01 phong bì niêm phong chứa số ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao bì của mẫu vật là tang vật của vụ án cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn luật định và phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Bùi Văn D 36 tháng tù về tội „Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 05 tháng 9 năm 2019.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu phong bì niêm phong số 464/2019/PC09 chứa toàn bộ vỏ bao gói và số ma túy còn lại sau giám định (Chi tiết tại Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16 tháng 12 năm 2019).

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện Thuỷ Nguyên;

- VKSND thành phố Hải Phòng;

- Cơ quan điều tra công an huyện Thuỷ Nguyên;

- Cơ quan THAHSCA huyện Thuỷ Nguyên;

- Trại giam công an thành phố Hải Phòng;

- Trại tạm giam công an huyện Thuỷ Nguyên;

- TAND thành phố Hải Phòng;

- Công an thành phố Hải Phòng;

- Chi cục THADS huyện Thuỷ Nguyên;

Nguyễn Thị Nhã

- Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;

- Đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ;

- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Phạm Văn Sóng Doãn Văn Sáng

Nguyễn Văn Cƣơng Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện Thuỷ Nguyên;

- VKSND thành phố Hải Phòng;

- Cơ quan điều tra công an huyện Thuỷ Nguyên;

- Cơ quan THAHSCA huyện Thuỷ Nguyên;

- Trại giam công an thành phố Hải Phòng;

- Trại tạm giam công an huyện Thuỷ Nguyên;

- TAND thành phố Hải Phòng;

- Công an thành phố Hải Phòng;

- Chi cục THADS huyện Thuỷ Nguyên;

Nguyễn Văn Cƣơng

- Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;

- Đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ;

- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

Cỡ chữ