- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Bùi Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Minh T; giữ nguyên quyết định bản án sơ thẩm số: 133/2019/HS-ST ngày 24 tháng 7 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU ——————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 132/2019/HS-PT Ngày 25 - 9 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trọng Nhân
Các Thẩm phán: Bà Châu Minh Hoàng
Ông Hồ Minh Tấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thu Khiếm là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa:
Bà Lê Kiều Diễm – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 134/2019/TLPT-HS ngày 30 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo Bùi Minh T, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 133/2019/HS-ST ngày 24 tháng 7 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Bùi Minh T, sinh năm 1988, tại thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau; nơi cư trú: Số 175, TPX, khóm 4, phường 8, thành phố CM, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bùi Hùng V (chết) và bà: Nguyễn Thị L; vợ: Trần Thị Mỹ P (đã ly hôn); con: Chưa có; tiền án: Tại Bản án số: 14/2015/HSST ngày 28/01/2015, của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự (Tổng hợp hình phạt với bản án số: 25/2015/HSST ngày 10/02/2015, xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, buộc Bùi Minh T chấp hành chung là 01 năm 09 tháng tù); chấp hành xong hình phạt ngày 10/6/2016; chấp hành xong án phí hình sự và dân sự ngày 06/5/2015; chưa chấp hành xong về bồi thường dân sự số tiền 8.235.000 đồng; tiền sự: Tại Quyết định số 06/QĐ-UBND ngày 08/12/2017, của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường 8, thành phố Cà Mau áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường, thị trấn thời gian 03 tháng kể từ ngày 08/12/2017, đã chấp hành xong; nhân thân: Ngày 15/3/2011, bị chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Cà Mau ra Quyết định số: 1335/QĐ-UBND, đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 02 năm về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã chấp hành xong quyết định; ngày 10/02/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 01 Điều 138 Bộ luật hình sự tại Bản án số: 25/2015/HSST; chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 10/6/2016, chấp hành xong án phí hình sự ngày 06/5/2015; bị bắt, tạm giữ ngày: 30/01/2019; tạm giam ngày: 02/02/2019; bị cáo bị tạm giam có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 30/01/2019, Công an thành phố Cà Mau bắt quả tang Bùi Minh T tàng trữ trái phép chất ma túy tại nhà số 175, Trương Phùng Xuân, khóm 4, phường 8, thành phố Cà Mau. Tang vật thu giữ gồm:
- Thu trong túi quần Bùi Minh T đang mặc 01 bịch nylon bên trong có chứa tinh thể trong suốt dạng rắn nghi ma túy, được niêm phong kín trong phong bì hình chữ nhật có chữ ký họ tên Bùi Minh T.
- Thu tại nơi nuôi gà của Bùi Minh T 01 bình tự chế; 01 bịch nylon bên trong có chứa tinh thể trong suốt dạng rắn, được niêm phong kín trong phong bì hình chữ nhật có chữ ký họ tên Bùi Minh T.
- Thu tại phòng ngủ của Bùi Minh T 02 bịch nylon bên trong có chứa tinh thể trong suốt dạng rắn, được niêm phong trong phong bì hình chữ nhật có chữ ký họ tên Bùi Minh T.
Theo bản kết luận giám định số: 22/GĐH/PC09 ngày 01 tháng 02 năm 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau, kết luận:
- Mẫu tinh thể màu trắng bên trong gói nylon, được niêm phong kín trong phong bì hình chữ nhật của Công an thành phố Cà Mau ký hiệu M.11/2019 (thu giữ trong người của T vào ngày 30/01/2019) gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,3528 gam, loại methamphetamin.
- Mẫu tinh thể màu trắng bên trong gói nylon, được niêm phong kín trong phong bì hình chữ nhật của Công an thành phố Cà Mau ký hiệu M.12/2019 (thu giữ tại nơi nuôi gà vào ngày 30/01/2019) gửi đến giám định chưa tìm thấy chất ma túy nằm trong Nghị định số: 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ, có khối lượng 5,1915 gam.
- Mẫu tinh thể màu trắng bên trong gói nylon, được niêm phong kín trong phong bì hình chữ nhật của Công an thành phố Cà Mau ký hiệu M.13/2019 (thu giữ trong phòng ngủ vào ngày 30/01/2019) gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 54,7014 gam, loại methamphetamin.
(Hoàn lại 0,2426 gam mẫu ký hiệu M.11/2019; 3,5927 gam mẫu ký hiệu M.12/2019 và 39,5611 gam mẫu ký hiệu M.13/2019 gửi đến giám định có niêm phong trích giám định, không lưu).
Qua điều tra Bùi Minh T khai báo thừa nhận: Bịt ma túy bị Công an thu giữ trong túi quần là do T vừa hỏi mua của một người thanh niên tên Bự (không rõ họ và địa chỉ) ở hẻm Cao tốc phường 7, thành phố Cà Mau, mục đích để sử dụng. 01 bịch nylon có chứa tinh thể màu trắng Công an thu giữ tại nơi nuôi gà và 02 bịt nylon bên trong có chứa tinh thể màu trắng Công an thu giữ tại phòng ngủ của T và một cái bình tự chế để sử dụng ma túy là do T lượm được gần Trường trung học cơ sở Lương Thế Vinh phường 8, thành phố Cà Mau. Sau khi lượm, biết là ma túy nên T đem về nhà cất giấu để sử dụng và đổi gà đá.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 133/2019/HS-ST ngày 24 tháng 7 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau quyết định: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; xử phạt bị cáo Bùi Minh T 10 (mười) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 30/01/2019.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên tịch thu tiêu hủy vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 31/7/2019, bị cáo Bùi Minh T có đơn kháng cáo, nội dung yêu cầu giám định lại khối lượng ma túy. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận yêu cầu kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với bị cáo Bùi Minh T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 30/01/2019, tại nhà số 175, Trương Phùng Xuân, khóm 4, phường 8, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau, Lực lượng Công an bắt quả tang Bùi Minh T đang cất giữ 0,3528 gam Methamphetamine trong túi quần và khám xét thu giữ trong phòng ngủ trong nhà của T 54,7014 gam Methamphetamine, tổng cộng thu giữ 55,0542 gam ma túy loại Methamphetamine. Với hành vi cất giấu khối lượng ma túy như đã nêu, Bùi Minh T khai mục đích là để sử dụng. Án sơ thẩm số: 133/2019/HS-ST ngày 24 tháng 7 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xử phạt bị cáo Bùi Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ pháp luật, đúng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Xét kháng cáo yêu cầu giám định lại khối lượng ma túy của bị cáo T thấy rằng, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo T không thừa nhận kết luận giám định xác định 02 bịt nylon có chứa tinh thể màu trắng Công an thu giữ trong phòng ngủ là chất ma túy vì cho rằng 02 bịt chất rắn này bị cáo lượm được cùng với 01 bịt nylon chứa chất rắn Công an thu giữ nơi nuôi gà kết quả giám định không phải là ma túy. Do đó bị cáo yêu cầu giám định lại 02 bịt nylon bị thu trong phòng ngủ. Hội đồng xét xử nhận thấy: Sau khi bị bắt và trong quá trình điều tra, bị cáo T khai nhận bịt ma túy thu trong túi quần là do bị cáo mua để sử dụng; 03 bịt chứa tinh thể màu trắng (02 bịt thu trong phòng ngủ và 01 bịt thu nơi nuôi gà) là do bị cáo nhặt được, biết là ma túy nên cất giữ để sử dụng. Lời khai của bị cáo phù hợp với kết luận giám định 02 bịt chất rắn thu trong phòng ngủ là ma túy loại Methamphetamine, riêng 01 bịt chất rắn thu nơi nuôi gà chưa tìm thấy chất ma túy. Chính vì vậy, cấp sơ thẩm chỉ truy tố, xét xử bị cáo T phạm tội đối với khối lượng chất ma túy theo kết luận giám định là đúng. Mặt khác, quá trình điều tra bị cáo đã nhận được thông báo kết quả giám định, không khiếu nại kết quả giám định. Hơn nữa, việc giám định được thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật. Do đó, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo về việc giám định lại chất ma túy.
Xét hành vi phạm tội và tính chất vụ án do bị cáo T thực hiện là rất nghiêm trọng, nhân thân bị cáo xấu đã từng bị xử phạt hành chính, xử phạt hình sự. Tại thời điểm phạm tội bị cáo là người đang có tiền sự và có tiền án chưa được xóa án tích, thuộc trường hợp có tình tiết tăng nặng là tái phạm. Án sơ thẩm xử phạt bị cáo 10 năm tù là tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội do bị cáo thực hiện. Cần giữ nguyên bản án sơ thẩm đã xử đối với bị cáo để bị cáo có thời gian cải tạo trở thành người tốt sau này.
Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Các phần khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố Tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Minh T; giữ nguyên quyết định bản án sơ thẩm số: 133/2019/HS-ST ngày 24 tháng 7 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; xử phạt: Bị cáo Bùi Minh T 10 (mười) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 30/01/2019.
2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau; - Công an tỉnh Cà Mau; - Trại tạm giam – CA tỉnh Cà Mau; - Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau; - Công an thành phố Cà Mau; - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau; - Chi cục THADS thành phố Cà Mau; - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác; - Lưu: Hồ sơ vụ án; Tòa HS; án văn; - Lưu VT( TM:TANDTCM). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Trọng Nhân |