vanban.org

Bản án 132/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Võ Thị M (Võ Thị Hiền M) và ông Huỳnh Văn Gi.

Về quyền nuôi con chung: Giao người con chung tên Huỳnh Thanh Đ, sinh ngày 04 tháng 5 năm 2015 cho bà Võ Thị M trực tiếp nuôi dưỡng; giao người con chung tên Huỳnh Thành D, sinh ngày 03 tháng 4 năm 2012 cho ông Gi trực tiếp nuôi dưỡng. Bà M, ông Gi có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa bà Phạm Thị M với ông Huỳnh Văn Gi"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Võ Thị M (Võ Thị Hiền M) và ông Huỳnh Văn Gi.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 132/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 13-11-2019
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Triều.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Minh Trọn.

Bà Nguyễn Kim Huệ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Châu Sơn Ca là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Bà Võ Thúy Nhị - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 308/2019/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 9 năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 248/2019/QĐXXST-HNGĐ, ngày 28 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Võ Thị M (tên trong giấy chứng nhận kết hôn Võ Thị Hiền M), sinh năm 1990 (có mặt).

Cư tại trú: Ấp Đ, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Ông Huỳnh Văn Gi, sinh năm 1983.

Cư tại trú: Ấp Đ, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau.

Ngày 25 tháng 10 năm 2019 ông Huỳnh Văn Gi có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 12 tháng 9 năm 2019 và tại phiên tòa nguyên đơn bà Võ Thị M trình bày: Bà và ông Huỳnh Văn Gi tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhan dân xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau. Trong quá trình chung sống vợ chồng xảy mâu thuẫn kéo dài không hòa hợp được trong lối sống, vợ chồng hay xảy ra cự cãi, vợ chồng không còn chung sống từ tháng 5 năm 2019 đến nay. Bà yêu cầu tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Huỳnh Văn Gi. Trong quá trình chung sống bà và ông Gi có hai người con chung tên Huỳnh Thành D, sinh ngày 03 tháng 4 năm 2012 và Huỳnh Thanh Đ, sinh ngày 04 tháng 5 năm 2015, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi người con chung tên Huỳnh Thanh Đ, bà yêu cầu giao người con chung tên Huỳnh Thành D cho ông Gi trực tiếp nuôi dưỡng, bà không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại biên bản ghi lời khai ngày 25 tháng 10 năm 2019 bị đơn ông Huỳnh Văn Gi trình bày: Ông đồng ý ly hôn với bà Võ Thị M. Về con chung ông đồng ý giao Huỳnh Thanh Đ cho bà M trực tiếp nuôi dưỡng, ông yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng Huỳnh Thành D, ông không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị M về việc yêu cầu ly hôn với ông Huỳnh Văn Gi. Giao Huỳnh Thành D sinh ngày 03 tháng 4 năm 2012 cho ông Gi trực tiếp nuôi dưỡng; giao Huỳnh Thanh Đ, sinh ngày 04 tháng 5 năm 2015 cho bà M trực tiếp nuôi dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Bà Võ Thị M yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Huỳnh Văn Gi, yêu cầu giải quyết việc nuôi con chung. Do đó, đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.

Về sự vắng mặt của đương sự: Ông Huỳnh Văn Gi là bị đơn đã có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt ông Huỳnh Văn Gi.

Về quan hệ hôn nhân : Bà Võ Thị M và ông Huỳnh Văn Gi tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2011 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau nên hôn nhân của bà M và ông Gi là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Tại phiên tòa bà M giữ yêu cầu ly hôn với ông Gi vì cho rằng bà không còn thương yêu ông Gi. Tại biên bản ghi lời khai ngày 25 tháng 10 năm 2019 ông Gi đồng ý ly hôn với bà M. Điều này cho thấy tình trạng hôn nhân giữa bà M và ông Gi đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận cho ly hôn giữa bà Võ Thị M và ông Huỳnh Văn Gi.

Về quyền nuôi con chung: Trong quá trình chung sống bà M và ông Gi có hai người con chung tên Huỳnh Thành D, sinh ngày 03 tháng 4 năm 2012 và Huỳnh Thanh Đ, sinh ngày 04 tháng 5 năm 2015, con chung đang chung sống với bà M và ông Gi, bà M yêu cầu được trực tiếp nuôi Huỳnh Thanh Đ, giao Huỳnh Thành D cho ông Gi trực tiếp nuôi dưỡng. Tại biên bản ghi lời khai ngày 25 tháng 10 năm 2019 ông Gi đồng ý giao con chung tên Huỳnh Thanh Đ cho bà M trực tiếp nuôi dưỡng và yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng Huỳnh Thành D. Xét thấy sự thỏa thuận giữa bà M và ông Gi là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, không vi phạm điều cấm của luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của bà M và ông Gi, giao người con chung tên Huỳnh Thanh Đ, sinh ngày 04 tháng 5 năm 2015 cho bà Võ Thị M trực tiếp nuôi dưỡng; giao người con chung tên Huỳnh Thành D, sinh ngày 03 tháng 4 năm 2012 cho ông Gi trực tiếp nuôi dưỡng. Bà M, ông Gi có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. Bà M, ông Gi không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung bà M, ông Gi không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị như nêu trên là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà M phải chịu 300.000đ, bà M đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000đ được chuyển thu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 điều 39, Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 271 và Điề u 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

- Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

- Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Võ Thị M (Võ Thị Hiền M) và ông Huỳnh Văn Gi.

- Về quyền nuôi con chung: Giao người con chung tên Huỳnh Thanh Đ, sinh ngày 04 tháng 5 năm 2015 cho bà Võ Thị M trực tiếp nuôi dưỡng; giao người con chung tên Huỳnh Thành D, sinh ngày 03 tháng 4 năm 2012 cho ông Gi trực tiếp nuôi dưỡng. Bà M, ông Gi có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

- Về án phí: Bà Võ Thị M phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000đ, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu tiền số 0019464 ngày 12 tháng 9 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân; bà M đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm, bà Võ Thị M có quyền khá ng cá o bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Huỳnh Văn Gi có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ