- Tranh chấp gì? án hình sự — "249. Tàng trữ traios phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 201…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN NAM THÀNH PHỐ T | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH THANH HÓA Bản án số: 132/2018/HSST Ngày: 26/6/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T- TỈNH THANH HÓA
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa:
Bà Lê Thị Hoa
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Cát Tưởng
2. Bà Nguyễn Thị Phương Nga
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Liên - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện VKSND thành phố T, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
Bà Lữ Thị Phương Quý - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 217/2018/HSST ngày 18/5/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 142 ngày 12 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn K - Sinh năm 1997; Nơi ĐKHKTT: Thôn 12, Xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa và chỗ ở: Thôn 12, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: lao động tự do; văn hóa: 9/12; con ông: Nguyễn Văn M, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1972; tiền án, tiền sự: không, bị cáo bị áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21h ngày 23/01/2018, tổ tuần tra cảnh sát cơ động đang làm nhiệm vụ ở khu vực Đại lộ L, phường Đ thì phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Văn K đang tàng trữ 01 gói nilon chứa chất nghi là chất ma túy đá và 01 gói chứa 05 viên nén màu hồng nghi là ma túy tổng hợp. K tàng trữ để sử dụng.
Tang vật thu giữ gồm:
- Một túi nilon kích thước 5x5cm, bên trong nghi là chất ma túy đá.
- 01 túi nilon kích thước 5x8cm, bên trong chứa 05 viên nén màu hồng nghi
là ma túy tổng hợp.
- 01 điện thoại nokia màu xanh đen đã qua sử dụng.
- 01 xe mô tô BKS 36B4-285-49, nhãn hiệu hon đa Blade màu trắng đã cũ.
Tại bản kết luận giám định số: 370/MT- PC 54 ngày 28/01/2018 của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Các tinh thể màu trắng dạng đá của phong bì niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, có tổng trọng lượng 3,849g loại Ketamine, 05 viên nén hình tròn màu hồng, trên một mặt mỗi viên dập chìm chữ VL, còn một mặt dập chìm đường chéo của phong bì niêm phong ký hiệu M2 gửi giám định là ma túy, có tổng trọng lượng 1,608g loại MDMA.
Quá trình điều tra Nguyễn Văn K khai nhận: Do nghiện ma túy nên khoảng 19h ngày 23/01/2018 Khanh đi xe máy đến khu vực BigC, phường Đông Hải tìm mua ma túy để sử dụng K gặp một người đàn ông không quen biết tên là Long mua một gói Ketamine và 05 viên thuốc lắc giá 01 triệu đồng. K cất 02 túi ma túy trong túi quần rồi chờ đón Q ở Hà Nội về nhà. Khoảng 21h K và Q đang điều khiển xe máy trên đường về nhà đến khu vực vòng xuyến BigC thì bị cảnh sát cơ động bắt giữ.
Đối với người thanh niên tên Long đã bán ma túy cho Nguyễn Văn K, K khai không biết địa chỉ của người này nên cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.
Đối với 01 điện thoại Nokia màu xanh đen đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Văn K không liên quan đến việc phạm tội nên cơ quan điều tra đã trả lại cho K.
Đối với 01 xe môtô BKS 36B4-285-49 nhãn hiệu Honda Blade màu trắng đã cũ qua điều tra nguồn gốc là của ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1972, trú tại : Thôn 12, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa ( là bố đẻ của K) việc K sử dụng làm phương tiện phạm tội ông M không biết nên cơ quan điều tra đã trả cho ông M.
Cáo trạng số 128/CT-VKSTP ngày 15/5/2018 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố Nguyễn Văn K về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát thành phố Thanh Hóa luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS, đề nghị xử phạt bị cáo từ 20 đến 24 tháng tù, tịch thu tiêu hủy số ma túy sau giám định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
.Do nghiện ma túy. Khoảng 19h ngày 23/01/2018 K đi xe máy đến khu vực BigC, phường Đ tìm mua ma túy để sử dụng Khanh gặp một người đàn ông không quen biết tên là L mua một gói Ketamine và 05 viên thuốc lắc giá 01 triệu đồng. Khanh cất 02 túi ma túy trong túi quần rồi chờ đón Q ở Hà Nội về nhà. Khoảng 21h K và Q đang điều khiển xe máy trên đường về nhà đến khu vực vòng xuyến BigC thì bị cảnh sát cơ động bắt giữ. Qua giám định 01 gói Ketamine có trọng lượng 3,349g, 05 viên thuốc lắc có tổng trọng lượng 1,608g loại MDMA.
Tại phiên tòa đại diện Viên kiểm sát luận tội đã đánh giá đúng tính chất hành vi nguy hiểm của tội phạm, đồng thời vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo nhận tội và không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng xin được giảm nhẹ hình phạt.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn K đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Tội danh và khung hình phạt áp dụng xét xử đối với bị cáo qui định tại Điểm i Khoản 1 Điều 249 BLHS.
. Về tính chất vụ án: Bị cáo là đối tượng biết rõ ma túy có tác hại nhiều mặt đến đời sống trong các quan hệ xã hội, ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn hóa lành mạnh. Đặc biệt ma túy còn là một trong những tác nhân làm lây truyền căn bệnh HIV/AIDS phát triển, nhất là đối với những người có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, vì có tác hại như vậy nên nhà nước ta đã có nhiều biện pháp tuyên truyền giáo dục, nhằm ngăn chặn các tệ nạn và hoạt động có liên quan đến ma túy. Trong vụ án này bị cáo vì nghiện ma túy dẫn đến phạm tội, hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, mà còn tạo ra dư luận xấu trong nhân dân, tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cần phải được sử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và có tính phòng ngừa chung.
Về trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Nhân thân bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự, nhưng lại là đối tượng nghiện ma túy, phạm loại tội nghiêm trọng. Vì lẽ đó cần phải cách ly khỏi xã hội để bị cáo có thời gian cải tạo, sữa chữa sai phạm, tuy nhiên khi lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là thành khẩn khai báo, theo qui định tại điểm s khoản 1, Điều 51 của BLHS để bị cáo thấy được sự khoan hồng của Pháp luật.
Về vật chứng: Toàn bộ số ma túy thu được của bị cáo sau khi giám định có trọng lượng 3,849g loại Ketamine và 1,608g loại MDMA là vật nhà nước cấm lưu hành, cần áp dụng, khoản1; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS để tịch thu tiêu hủy.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Áp dụng: Điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 BLTTHS. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội qui định mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn K: 24 ( Hai tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 3,849g Ketamine và 1,608g MAMD được niêm phong có đóng dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa. Hiện tang vật đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa theo biên lai giao nhận vật chứng số 138/THA ngày 11/6/2018.
Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST.
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7,9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: THẨM -Bị cáo; TÒA -VKSNDTPTH; - Công an TP. Thanh Hóa; -Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN Lê Thị Hoa |