- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật"
- Tòa quyết gì? Kho n 5 Điều 26 Luật đất đai năm 2013;
- Căn cứ chính? Điều 26 Luật Đất đai; Điều 308 Bộ luật t tụng dân sự
| T A ÁN NH N D N C P CAO T Đ N N | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| n n s : 132/2018/DS-PT N y 02 - 10 - 2018 V/v “Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật”. |
NHÂN DANH
N C C N H A X H CHỦ N H A V T NAM
T A ÁN NH N D N C P CAO T Đ N N
-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Mai Xuân Thành.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Long.
Ông Trần Quốc Cường.
-Thư ký phiên toà: Văn Thị Mỹ Thảo - Thư ký To n nhân dân cấp cao tại Đ Nẵn .
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Thái Văn Đoàn - Kiểm s t viên.
Ngày 02 th n 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đ Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý s : 77/2018/TLPT-DS ngày 27/12/2017 về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật”. Do B n án dân sự sơ thẩm s 30/2017/DS-ST n y 28 th n 09 năm 2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Qu ng Ngãi bị kháng cáo.
Giữa c c đươn sự:
- Nguyên đơn: Bà Trịnh Thị A sinh năm 1931; địa chỉ: Đội 8, thôn M, xã B, huyện B1, tỉnh Qu ng Ngãi.
- Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị P; địa chỉ: Đội 8, thôn M, xã B, huyện B1, tỉnh Qu ng Ngãi. Bà Pcó mặt.
- Bị đơn: Bà Phạm Thị C sinh năm 1960; địa chỉ: Đội 8, thôn M, xã B, huyện B1, tỉnh Qu ng Ngãi, vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị M; địa chỉ: Đội 9, thôn M, xã B, vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị B; địa chỉ: Đội 8, thôn M, xã B, huyện B1, tỉnh Qu ng Ngãi. Bà B có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị P; địa chỉ: Đội 8, thôn M, xã B, huyện B1, tỉnh Qu ng Ngãi. Bà Pcó mặt.
- Bà Nguyễn Thị H; địa chỉ: Đội 9, thôn M, xã B, huyện B1, tỉnh Qu ng Ngãi. Bà Hạnh có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Th; địa chỉ: Xóm 2 Nam, thôn Thạch An, xã B, huyện B1, tỉnh Qu ng Ngãi. Bà Th có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn Th1; địa chỉ: Phòng s 17 s 22A đường N, ấp 1 xã H, huyện N, thành ph Hồ Chí Minh. Ông Th1 có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Anh Trương Quang C1; địa chỉ: Đội 8, thôn M, xã B, huyện B1, tỉnh Qu ng Ngãi. Ông C1 có mặt.
- Anh Trương Quang P1; s 67/18 đường s 16, khu ph 4, phường Bình Hưn Hòa, quận Bình Tân, thành ph Hồ Chí Minh, vắng mặt.
- Anh Trương Quang Tr; địa chỉ: Tổ 6, ấp Su i Lúp, xã Bình Ba, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũn T u, Ôn Trường có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Chị Trương Thị Thùy G; địa chỉ: s 1253 tỉnh lộ 43, khu ph 1, phường Bình Chiểu, quận Thủ Đức, thành ph Hồ Chí Minh, vắng mặt.
- Uỷ ban nhân dân huyện B1, tỉnh Quảng Ngãi, có đơn xin xét xử vắng mặt.
N ười kh n c o: N uyên đơn b Trịnh Thị A.
N I DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm nội dung vụ án như sau:
Tron đơn khởi kiện n y 21/12/2016, c c đơn khởi kiện bổ sung của n uyên đơn b Trịnh Thị A; Các b n tự khai, biên b n ghi lời khai, và tại phiên tòa n ười đại diện theo ủy quyền của n uyên đơn, b Nguyễn Thị P trình bày:
Ngày 04/6/1964 bà Trịnh Thị A và chồng là ông Nguyễn Th2 có mua đoạn mãi của vợ chồng ông Nguyễn Đình Kh i, bà Huỳnh Thị Theo 24 thửa đất, tron đó có thửa đất s 3694 có điện tích 150m2 (5m x 30m) có trích lục địa bộ cửa “Đại nam - Trung Kỳ - Chánh phủ” đính kèm. Hiện nay thửa đất s 3694 là thửa đất s 903, tờ b n đồ s 42, diện tích 141m2 tại xã B, huyện B1, tỉnh Qu ng Ngãi.
Sau khi mua, vợ chồng bà A trồn lúa nước (loại 6 tháng/vụ) nhưn về sau do đất gò thiếu nước nên chuyển sang trồn hoa m u. Đến năm 1999 bà A cho con gái là Nguyễn Thị P sử dụng diện tích đất n y để làm mặt bằng kinh doanh vật liệu xây dựn . Đến th n 10 năm 2009 thì bà P không kinh doanh vật liệu xây dựng nữa nên bà A chuyển sang trồng chu i và trồng cỏ nuôi bò. Năm 1997 ông Th2 chết, bà A vẫn qu n lý và sử dụng thửa đất trên, đến đầu năm 2010 thì bà A đổ 02 xe đất để cho mặt bằng thửa đất bằng phẳn hơn, dự định để con gái là bà Nguyễn Thị B mở quán tạp hóa. Lúc này, ông Trươn Quan V đến tự ý lấy đất để dựn cây rơm nhưn bị bà A n ăn c n nên ông V chỉ dựng được cây rơm cao kho n l,5m nhưn sau đó bị bà A phá bỏ. Lúc đó ông V mới nói cho bà A biết là hộ ia đình ôn đã được Ủy ban nhân dân huyện B1 cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụn đất đ i với thửa đất này. Từ đó, bà A mới biết thửa đất 903, tờ b n đồ s 42, diện tích 141m2 tại thôn M, xã B, huyện B1 của b đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụn đất cho ia đình ôn Trươn Quang V, bà Phạm Thị C. Khi ông Trươn Quan V chết (năm 2014) thì vợ ông V là bà Phạm Thi C tiếp tục tranh chấp thửa đất trên với bà A, bà C và các con của bà C l Trươn Quang C1, Trươn Quang P1, Trươn Quan Tr, Trươn Thị Thùy G nhiều lần c n trở không cho bà A canh t c trên đất.
Tại đơn khởi kiện, bà A yêu cầu đòi lại tài s n và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụn đất đã cấp cho hộ ông Trươn Quan V đ i với thửa đất s 903, tờ b n đồ s 42, diện tích 141m2 tại thôn M, xã B, huyện B1. Sau đó bà A bổ sung yêu cầu buộc bà và các con bà C ph i chấm dứt hành vi c n trở quyền sử dụn đất của bà và rút yêu cầu đòi lại tài s n là thửa đất s 903. Tuy nhiên, hiện nay thửa đất 903 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụn đất cho hộ ông Trươn Quan V. Vì vậy bà A x c định lại nội dung yêu cầu khởi kiện yêu cầu Tòa án gi i quyết là: Yêu cầu bà C và các con bà C là các anh, chị Trươn Quang C1, Trươn Quan Tr, Trươn Quang P1, Trươn Thị Thùy G ph i tr cho bà thửa đất s 903, tờ b n đồ 42, tại thôn M, xã B, huyện B1 có diện tích đo đạc thực tế là 196,3m2, huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụn đất đã cấp cho hộ ia đình ôn Trươn Quan V đ i với thửa đất trên và buộc bà C và các con ông V, bà C ph i chấm dứt hành vi c n trở quyền sử dụn đất của b đ i với thửa đất trên.
Hiện nay trên đất có 15 cây chu i do con gái bà là bà Nguyễn Thị P trồng.
Tron đơn trình b y, biên b n ghi lời khai, bị đơn b Phạm Thị C trình
bày:
Nguyên thửa đất 903, tờ b n đồ s 42, diện tích 141m2 tại thôn M, xã B, huyện B1, tỉnh Qu ng Ngãi có nguồn g c do ủy ban nhân dân huyện B1 cấp cho hộ ia đình b v o năm 2004, chồng bà ông Trươn Quan V là chủ hộ (ông V chết năm 2014). Trước khi Ủy ban nhân dân huyện B1 cấp cho hộ ia đình b thì bà không biết thửa đất n y được cấp cho ai, việc đăn ký kê khai để xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụn đất của thửa đất do ông V đăn ký. Giấy chứng nhận quyền sử dụn đất của thửa đất 903 do ông V cất giữ nên khi ông V chết thì Giấy chứng nhận quyền sử dụn đất đã thất lạc, hiện nay b khôn còn lưu giữ.
Sau khi được ủy ban nhân dân huyện B1 cấp thửa đất trên cho hộ ia đình b thì cũn tron năm 2004 b tiến hành trồng cỏ Voi để nuôi bò liên tục đến năm 2016 thì khôn trồng nữa. Từ tháng 10/2016 cho đến tháng 01/2017 bà chuyển sang trồng rau lang trên diện tích kho ng 50m2 đất. Cũn tron năm 2004 bà có trồng một s cây chu i, hiện nay còn kho n 30 cây trên đất. Khi bà trồng cỏ Voi, Chu i và rau Lang thì bà A không có ph n đ i ì. Năm 2010 bà A tự ý đổ một xe đất kho ng 8m3 đất trên thửa đất tranh chấp, vợ chồng bà không đồn ý nên đã dùn cu c san bằn đ m đất này ra. Kho ng tháng 3/2011, vợ chồng bà dựng một cây rơm trên đất nhưn bà A ra n ăn c n không cho dựng, sau đó bà A bỏ về không tiếp tục n ăn c n nữa. Kho ng tháng 9/2011 thì cây rơm khôn còn rơm nên b ph cây rơm. Đến th n 9 năm 2014 b tiến hành trồng kho ng 30 cây Keo xung quanh ranh thửa đất, kho ng 03-04 tháng sau thì con gái bà A là bà Nguyễn Thị P đã tự ý chặt hết chỉ còn sót lại một cây, nhưn bà không yêu cầu chính quyền gi i quyết. Hiện nay trên đất có 30 cây chu i và 01 cây keo hai năm tuổi do bà trồng.
Thửa đất 903, tờ b n đồ s 42, diện tích 141m2 tại thôn M, xã B, huyện B1, tỉnh Qu ng Ngãi đã được ủy ban nhân dân huyện B1 cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụn đất cho ia đình b nền b khôn đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà A. Việc bà A cho rằng bà và các con bà c n trở không cho bà A thực hiện quyền sử dụn đất l khôn có căn cứ vì đất này thuộc quyền sử dụng của gia đình b , vì vậy bà yêu cầu Tòa án không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của n uyên đơn.
Tại Côn văn s 1696/UDND-NC n y 12/7/2017 v Côn văn s 2141/UBND-NC ngày 24/8/2017 của Ủy ban nhân dân huyện B1 là n ười có quyền lợi, n hĩa vụ liên quan trình bày:
Thửa đất 903, tờ b n đồ s 42, diện tích 141m2 tại thôn M, xã B, huyện B1, tỉnh Qu n N ãi được Hợp tác xã nông nghiệp 1B cân đ i giao cho bà Nguyễn Thị V1 và con trai là ông Đo n N ọc C2 v o năm 1986. Đến năm 1991 bà V1 chết, ông C2 chuyển đến vùng kinh tế mới nên giao lại thửa đất s 903 cho ông Dươn Văn T1 canh t c. Sau đó ông T1 đổi thửa đất s 903 cho ông Trươn Quan V và nhận thửa đất khác của ông V để canh tác.
Năm 1998 Ủy ban nhân dân xã B, huyện B1 xây dựn phươn n iao đất v đưa c c thửa đất nông nghiệp trên địa bàn xã B (tron đó có thửa đất s 903) v o cân đ i theo Nghị định s 64/CP giao cho hộ ia đình, c nhân trên địa bàn xã B. Phươn n iao đất hiện nay khôn còn lưu iữ vì do lũ lụt năm 2009. Thửa đất s 903 được ủy ban nhân dân xã B giao cho hộ ia đình ôn Trươn Quang V, đến ngày 14/5/2004 ông Trươn Quan V được ủy ban nhân dân huyện B1 cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụn đất s vào sổ 05706QSDĐ/1797/2004/QĐ-U (H) đ i với thửa đất 903, tờ b n đồ s 42, diện tích 141m2, loại đất vườn tại xã B, huyện B1, tỉnh Quàng Ngãi.
Nhữn n ười có quyền lợi n hĩa vụ liên quan tham gia t tụng với bên n uyên đơn: Th ng nhất với nội dung trình bày của n uyên đơn.
Nhữn n ười có quyền lợi n hĩa vụ liên quan tham gia t tụng với bên bị đơn: Th ng nhất với nội dung trình bày của bị đơn.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 30/2017/DS-ST ngày 28 tháng 09 năm 2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi quyết định:
Áp dụng kho n 9 Điều 26, Điều 34, kho n 1 Điều 47, Điều 157 của Bộ luật t tụng dân sự năm 2015; Kho n 5 Điều 26 Luật Đất đai năm 2013; Kho n 1 Điều 26, điểm a kho n 2 Điệu 27 Nghị quyết s 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban Thường vụ Qu c hội.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trịnh Thị A về việc yêu cầu bà Phạm Thị C và các con bà C l anh Trương Quang C1, anh Trươn Quang P1, anh Trươn Quan Tr, chị Trươn Thị Thùy G tr lại tài s n là quyền sử dụn đất thửa đất s 903, tờ b n đồ s 42, diện tích 14 lm2 (đo đạc thực tế là 196,3m2) tại xã B, huyện B1, tỉnh Qu ng Ngãi.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trịnh Thị A về việc yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụn đất s vào sổ 05706QSDĐ/1797/2004/QĐ-U (H) được ủy ban nhân dân huyện B1, tỉnh Qu ng Ngãi cấp cho hộ ông Trươn Quan V v o n y 14/5/2004 đ i với thửa đất s 903, tờ b n đồ s 42, diện tích 141m2, loại đất vườn tại xã B, huyện B1, tỉnh Qu ng Ngãi.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trịnh Thị A về việc yêu cầu bà Phạm Thị C và các con bà C l anh Trưon Quang C1, anh Trươn Quang P1, anh Trươn Quan Tr, chị Trươn Thị Thùy G chấm dứt hành vi c n trở trái pháp luật về việc thực hiện quyền của b đ i với thửa đất s 903, tờ b n đồ s 42, diện tích 141m2 (đo đạc thực tế là 196,3m2) tại xã B, huyện B1, tỉnh Qu ng Ngãi.
Ngoài ra, b n n sơ thẩm còn quy định về quyền yêu cầu thi hành án, án phí và quyền kh n c o theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 12/10/2017 bà Trịnh Thị A có đơn kh n cáo, với nội dung: Bà kháng cáo toàn bộ b n n sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại và chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Bà A vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo, các đươn sự không thỏa thuận với nhau về việc gi i quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát cấp cao tại Đ Nẵng cho rằng thẩm phán chủ tọa phiên tòa và hội đồng xét xử chấp h nh đún c c quy định của pháp luật t tụng dân sự, c c đươn sự chấp h nh đún c c quy định của pháp luật và thực hiện đún quyền n hĩa vụ của mình. Về nội dung vụ n, đề nghị hội đồng xét xử không chấp nhận đơn kh n c o của bà Trịnh Thị A.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết qu tranh tụng tại phiên tòa, c c quy đinh của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Xét yêu cầu kháng cáo của bà Trịnh Thị A, thấy:
Bà A yêu cầu bà C và các con bà C tr lại thửa đất s 903, tờ b n đồ s 42 tại xã B, huyện B1, tỉnh Quãng Ngãi có diện tích 141m2, đo đạc thực tế 196,3 m2; chứng cứ bà A xuất trình là Giấy “Khế bán ruộng lai thục” ghi ngày 4/6/1964, bán trong thời hạn 2 năm từ năm 1964 đến năm 1966 hết hạn; đồng thời yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụn đất và chấm dứt hành vi c n trở trái pháp luật. Căn cứ vào các tài liệu tại hồ sơ v lời khai của bà Ptại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm thể hiện ia đình bà A khôn kê khai, đăn ký thửa đất này với cơ quan qu n lý Nh nước về đất đai tại địa phươn xã B, huyện B1, Qu ng Ngãi.
Xét quá trình sử dụng thửa đất này, thấy: Theo Côn văn s 2141 /UBND NC ngày 24/8/2017 ( L 236) v Côn văn s 1696/UBND-NC ngày 12/7/2017 (BL 159) của Ủy ban nhân dân huyện B1, sổ mục kê đất khu vực nông thôn ngày 21/6/2004 của UBND xã B ( L 4), Côn văn s 58/UBND ngày 19/6/2017(BL 167) của UBND xã B, lời khai của n ười làm chứn Đ o N ọc Ca và Dươn Văn T1 (BL 170 và 172, 173) thì thửa đất s 903, tờ b n đồ s 42, diện tích 141m2, loại đất BHK-Vào nhữn năm 1980 do HTXNN1B qu n lý; đến năm 1986 HTXNN1 cân đ i giao cho hộ bà Nguyễn Thị V1 cùng con trai là ôn Đ o N ọc C2 qu n lý sử dụn ; đến năm 1991 bà V1 chết ôn Đ o N ọc C2 giao lại cho ông Dươn Văn T1 qu n lý sử dụn , sau đó ôn Dươn Văn T1 đổi thửa đất trên cho ông Trươn Quan V (chồng bà Phạm Thị C); v o năm 1998, UBND xã B đưa c c thửa đất nồng nghiệp trên địa b n xã v o cân đ i iao đất theo Nghị định 64/CP của Chính phủ, theo đó thửa đất 903 được UBND xã B giao cho hộ ông Trươn Quan V, ngày 14/5/2004 ông Trươn Quan V được UBND huyện B1 cấp giấy chứng nhận quyền sử dụn đất s 05706/QSDĐ/1797/2004/QĐ-UB(H) diện tích 141m2; đ i với diện tích tăn thêm 55,3m2 so với giấy chứng nhận n uyên nhân l do năm 2004 đo đạc và tính diện tích đất bằng phươn ph p thủ công nên diện tích chưa chính x c, từ trước đến nay các hộ sử dụn đất liền kề không có tranh chấp về ranh giới.
Thửa đất s 903, tờ b n đồ s 42 tại xã B, huyện B1, tỉnh Qu ng Ngãi đã được UBND huyện B1 cấp giấy chứng nhận cho hộ ông Trươn Quan V qu n lý sử dụn l đún ph p luật, sau khi ông V chết bà C và các con bà C là Trươn Quang C1, Trươn Quang P1, Trươn Quan Tr, chị Trươn Thị Thùy G tiếp tục sử dụng thửa đất trên l có căn cứ. Bà Trịnh Thị A khởi kiện đòi tr lại thửa đất trên, đồng thời yêu cầu hủy giấy chứng nhận của ông Trươn Quan V và yêu cầu bà C cùng các con bà C chấm dứt hành vi c n trở Bà Thực hiện quyền đ i với thửa đất tranh chấp l khôn có cơ sở; B n n sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Qu ng Ngãi không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của n uyên đơn b Trịnh Thị A l có căn cứ, đún ph p luật theo quy định tại kho n 5 Điều 26 Luật đất đai năm 2013, tại phiên tòa phúc thẩm bà A cũn khôn cun cấp thêm được tình tiết nào mới khác, do vậy Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà Trịnh Thị A giữ nguyên quyết định của B n n sơ thẩm.
Bà Trịnh Thị A ph i chịu án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu s AA/2016/0002212 ngày 17/10/2017 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Qu ng Ngãi.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ kho n 1 Điều 308 Bộ luật t tụng dân sự 2015;
Kho n 5 Điều 26 Luật đất đai năm 2013;
Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban Thường vụ Qu c hội quy định về mức thu, mỉễn gi m, thu, nộp, qu n lý và sử dụng ấn phí và lệ phí tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của bà Trịnh Thị A. Giữ nguyên B n án dân sự sơ thẩm s 30/2017/DS-ST n y 28 th n 09 năm 2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Qu ng Ngãi.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trịnh Thị A về việc yêu cầu bà Phạm Thị C và các con bà C l anh Trươn Quang C1, anh Trươn Quang P1, anh Trươn Quan Tr, chị Trươn Thị Thùy G tr lại tài s n là quyền sử dụng thửa đất s 903, tờ b n đồ s 42, diện tích 141m2 (đo đạc thực tế là 196,3m2) tại xã B, huyện B1, tỉnh Qu ng Ngãi.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trịnh Thị A về việc yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụn đất s vào sổ 05706QSDĐ/1797/2004/QĐ-U (H) được Ủy ban nhân dân huyện B1, tỉnh Qu ng Ngãi cấp cho hộ ông Trươn Quan V v o n y 14/5/2004 đ i với thửa đất s 903, tờ b n đồ s 42, diện tích 141m2, loại đất vườn tại xã B, huyện B1, tỉnh Qu ng Ngãi.
3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trịnh Thị A về việc yêu cầu bà Phạm Thị C và các con bà C l anh Trươn Quang C1, anh Trươn Quang P1, anh Trươn Quan Tr, chị Trươn Thị Thùy G chấm dứt hành vi c n trở trái pháp luật về việc thực hiện quyền của đ i với thửa đất s 903, tờ b n đồ s 42, diện tích 141m2 (đo đạc thực tế 196,3 m2) tại xã B, huyện B1, tỉnh Qu ng Ngãi.
4. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Trịnh Thị A ph i chịu 300.000, đồng (Ba trăm n n đồn ) được trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp tại Biên lai thu s AA/2016/0002212 ngày 17/10/2017 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Qu ng Ngãi.
5. Những quyết định khác của B n n sơ thấm không bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không gi i quyết, có hiệu lực pháp luật kế từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
6. B n án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM. H ĐỒN XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - TANDTC; - VKSNDCC tại Đ Nẵn ; - TAND tỉnh Qu n N ãi; - VKSND tỉnh Qu n N ãi; - Cục thi h nh n dân sự tỉnh Qu n N ãi; - C c đươn sự; - Lưu hồ sơ, HCTP, VT. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PH ÊN T A (Đã ký) Mai Xuân Thành |