- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 248 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 132/2017/HSPT Ngày: 19-12-2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hồ Đức Quang
Các Thẩm phán: Bà Nguy n Thị B ch Đ o
B Trương Thị L Thu
- Thư ký phiên toà: Bà Nguy n Thị Thắm – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa ông: Lê Quang Phi t, Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 12 năm 2017, tại Hội trường Tòa án nhân dân tỉnh H Tĩnh mở phiên tòa phúc thẩm công khai xét xử vụ án hình sự thụ lý số 112/2017/HSPT ngày 13 tháng 10 năm 2017 đối với bị cáo Hồ Thiên T v đồng phạm, do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 23/2017/HSST ngày 07/9/2017 của Tòa án nhân dân huy n C, tỉnh H Tĩnh.
- Bị cáo kháng cáo:
1. Hồ Thiên T. Sinh ngày 01/8/1984
HKTT: Xã V, huy n C, tỉnh H Tĩnh
Chỗ ở: Xóm Làng N, xã V, huy n C, tỉnh H Tĩnh
Văn Hóa: 9/12; Nghề nghi p: Làm ruộng
Cha: Hồ Thiên T (Nguyên l thương binh 4/4, hi n đã chết)
Mẹ: Trần Thị T, sinh 1941; Vợ: Hoàng Thị H, sinh 1984
Có 2 con: Lớn nhất 14 tuổi, nhỏ nhất 12 tuổi
Đều sinh sống tại xã V, huy n C, tỉnh H Tĩnh
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ từ ng y 19/5 đến ng y 22/ 5/ 2017 được thay đổi bi n pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
2. Lê Quyết C. Sinh ngày 10/10/1975
HKTT: Xã T, huy n C, tỉnh H Tĩnh
Chỗ ở: Xóm Thanh T, xã T, huy n C, tỉnh H Tĩnh
Văn hóa: 9/12; Nghề nghi p: làm ruộng
Cha: Lê Hông L, sinh 1944. Thương binh 4/4
Mẹ: Trần Thị T, sinh 1947; Vợ: Nguy n Thị B. Sinh 1974
Có 3 con: Lớn nhất 18 tuổi, nhỏ nhất 16 tuổi
Đều sinh sống tại xã T, huy n C, tỉnh H Tĩnh
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ từ ng y 19/5 đến ng y 22/5/2017 được thay đổi bi n pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
3. Bùi Đức H. Sinh ngày 05/10/1963
HKTT: Phường Đ, Thị xã H, tỉnh H Tĩnh
Chỗ ở: Khối 3, phường Đ, thị xã Hồng L, tỉnh H Tĩnh
Văn hóa: 7/10; Nghề nghi p: Làm ruộng
Cha: Bùi T; Mẹ: Nguy n Thị T (Đều đã chết)
Vợ: Nguy n Thị H, sinh 1970
Hi n trú tại Khối 3, phường Đ, thị xã Hồng L, tỉnh H Tĩnh
Có 3 con: Lớn nhất 27 tuổi, nhỏ nhất 24 tuổi
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 20/06/1988 bị công an tĩnh Nghĩa Bình bắt về hành vi Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa.
Bị cáo bị tạm giữ từ ng y 19/5 đến ng y 22/5/2017 được thay đổi bi n pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt
4. Tôn V. Sinh ngày 15/11/1993
HKTT: Xã V, huy n C, tỉnh H Tĩnh
Chỗ ở: Xóm Làng N, xã V, huy n C, tỉnh H Tĩnh
Văn Hóa: 12/12; Nghề nghi p: Lao động tự do
Cha: Tôn H, sinh 1965; Mẹ: Nguy n Thị T, sinh 1974
Đều sinh sống tại xã V, huy n C, tỉnh H Tĩnh
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị áp dụng bi n pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt
5. Phan Sỹ T. Sinh ngày 20/10/1980
HKTT: Xã K, huy n C, tỉnh H Tĩnh
Chỗ ở: Xóm Kiều M, xã K, huy n C, tỉnh H Tĩnh
Văn hóa: 3/12; Nghề nghi p: Làm ruộng
Cha: Phan Sỹ D; Mẹ: Phạm Thị T (Đều đã chết)
Vợ: Phạm Thị S, sinh 1979
Có 2 con: Lớn nhất 16 tuổi, nhỏ nhất 13 tuổi
Đều sinh sống tại xã K, huy n C, tỉnh H Tĩnh
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/5 đến ng y 22/5/2017 được thay đổi bi n pháp ngăn chặn “ Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt
6. Lê Văn T. Sinh ngày 08/10/1973
HKTT: Xã T, huy n C, tỉnh H Tĩnh
Chỗ ở: Xóm Đông N, xã T, huy n C, tỉnh H Tĩnh
Văn hóa: 12/12. Nghề nghi p: Làm ruộng
Cha: Lê Văn C, sinh 1947. B nh binh mất sức 41%
Mẹ: Nguy n Thị M, sinh 1949
Vợ: Nguy n Thị A, sinh 1976
Đều sinh sống tại xã T, huy n C, tỉnh H Tĩnh
Có 3 con: Lớn nhất 24 tuổi, nhỏ nhất 18 tuổi
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị áp dụng bi n pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt
- Bị cáo không kháng cáo:
1. Nguy n Xuân B. Sinh ngày 20/01/1990, chỗ ở: Xóm Làng N, xã V, huy n C, tỉnh H Tĩnh, vắng mặt
2. Tô Đình T. Sinh ngày 15/02/1966
Chỗ ở: Xóm Đông N, xã T, huy n C, tỉnh H Tĩnh, vắng mặt
3. Lê T. Sinh ngày 20/4/1967
Chỗ ở: Xóm T, xã T, huy n C, tỉnh H Tĩnh, vắng mặt
4. Nguy n Văn H. Sinh ngày 23/7/1970
Chỗ ở: Xóm Đông N, xã T, huy n C, tỉnh H Tĩnh, vắng mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo:
Nguy n Văn N. Sinh 1964, Trú tại : Xóm Làng N, xã V, huy n C, tỉnh Hà
Tĩnh, vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các t i li u có trong hồ sơ vụ án v di n biến tại phiên to , nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 19/5/2017 tại quán cà phê Phú T thuộc xã V, Hồ Thiên T, sinh 1970, trú tại xóm Làng N, xã Vượng L gọi đi n cho Lê Quyết C, sinh 1993 trú tai xóm Thanh T, xã T; Tôn V, sinh năm 1993 v Nguy n Xuân B, sinh 1980 đều trú tại Làng N, xã V đến quán uống cà phê. Lê T, sinh 1967 trú tại xóm Thanh T, xã T cùng đến với Lê Quyết C. Sau đó, Lê T đi trước đến nhà Nguy n Văn H ở xóm Đông N, xã T để xem me v đưa Nguy n Văn H đi mua trâu, còn Hồ Thiên T thì gọi đi n cho Nguy n Văn N, sinh 1964 trú tại xã V đến nhờ đưa chó đi nhập giúp. Lê Quyết C gọi đi n cho Bùi Đức H, sinh 1963 trú tại phường Đ, thị xã H đến nhà Nguy n Văn H để mua me cho H. Một lúc sau, Nguy n Văn N đến và dùng xe của Hồ Thiên T đi nhập chó cho T, Nguy n Xuân B thì về nhà mình còn Hồ Thiên T đi xe máy của N, Tôn V dùng xe máy của V chở C cùng đi đến nhà Nguy n Văn H thì gặp H. Sau khi xem me của H xong, T, C, V, H, T và H ra ngồi uống nước tại b n đặt ở sân nhà H, T dề xướng đánh bạc bằng hình thức đánh xóc đĩa thì không ai phản ứng gì. T xin đánh tại nh H nhưng H không đồng ý và chỉ sang nhà Lê Văn T ở đối di n. Do chưa có tiền nên T nói với Lê T“ Cho dượng vay năm tri u đồng nhởi hồi” (Đánh bạc hồi) v đưa chìa khóa xe của N để l m tin thì được T đồng ý v cho vay 5.000.000 đồng. Do có người nhờ nên H đi mua 10 bộ bài tulokho khi về giao cho C v đưa cho C một chiếc kéo. C dùng kéo cắt 4 quân đĩ hình tròn từ lá bài tulokho H mua về, còn T vào nhà H lấy 01 bát v 01 đĩa sứ ra. Sau khi mượn nhà T làm chỗ đánh xóc đĩa v được T đồng ý, Tám và V đi sang nhà T, V lấy chiếu có sẵn trong nhà trải ra tại phòng khách. Khi C sang nhà T thì T, V, C cùng đánh xóc đĩa do T cầm cái, sau một tý thì H sang v v o tham gia. Trước khi số người n y đánh xóc đĩa thì T yêu cầu cắt cho T mỗi người 100.000 đồng, C thu được 400.000 đồng giao cho T. N được tiền, T khép cữa và đi l m. Đánh được một lúc thì H đến và nói thu tiền bài, tiền bát đĩa thì C tiếp tục thu mỗi người 100.000 đồng được 400.000 đồng đưa cho H. Trong quá trình đánh xóc đĩa, C gọi đi n cho Phan Sỹ T, sinh 1980 ở xóm K, xã K đến nhà H mua me. Khi đến nhà H, T hỏi H thì được biết C đang đánh bạc tại nh T nên đi sang nh T và cùng vào tham gia. Sau đó lần lượt Nguy n Xuân B, Tô Đình T sinh năm 1966 trú tại xóm Đông N, xã T đến v v o tham gia đánh xóc đĩa. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, T về nói “ Đánh bạc tại nhà T có gì T phải chịu trách nhi m, yêu cầu cắt tiếp cho T mỗi người 100.000 đồng nữa, C thu được 600.000 đồng đưa cho T lần thứ 2. T cầm cái được 1 lúc thì N gọi ra nên T nghỉ chơi v đi sang nh H, thấy T và N đang ngồi uống nước, H quét sân, T trả lại cho Tân 5.000.000 đồng vay trước đó v lấy lại chìa khóa xe của N từ T trả lại cho N. N giao cho T 4.250.000 đồng tiền bán chó, T trả công v cho Nhâm 250.000 ng n đồng. Trong khi T nhận tiên từ N và trả tiền cho T thì N có hỏi T “Có m u không”, T trả lời “Có được sáu bảy trăm” còn T hỏi T “Được hay thua” thì T trả lời “Có được sơ sơ”. Sau khi trả tiền cho T và nhận tiền từ N, T dùng 4.000.000 đồng tiền bán chó mà N đưa cho tiếp tục tham gia đánh bạc. H sau khi đánh hết số tiền 2.000.000 đồng mang theo thì đi ra v gặp T thì hỏi vay 5.000.000 đồng để đánh bạc, T đồng ý v đưa cho H 5.000.000 đồng. Nhận được 5.000.000 đồng vay ở T, H tiếp tục v o tham gia đánh bạc ở nhà T.
Số tiền Hồ Thiên T dùng vào vi c đánh bạc l 9.000.000 đồng ( gồm vay của T 5.000.000 v 4.000.000 đồng tiền bán chó N đưa cho), của Lê Quyết C là 4.900.000 đồng, của Tôn V khoảng 1.000.000 đồng, Bùi Đức H 7.000.000 đồng ( gồm tiền mang theo 2.000.000 đồng và tiền vay T 5.000.000 đồng ), của Lê Sỹ T 1.000.000 đồng, Nguy n Xuân B 1.000.000 đồng và của Tô Đình T khoảng 2.000.000 đồng. Quá trình đánh Hồ Thiên T và Lê Quyết C thay nhau cầm cái. Cách đánh: Người cầm cái để 4 quân đĩ v o đĩa úp bát sứ lên trên xóc nhiều lần và người chơi muốn đặt cữa lẽ hoặc cữa chẵn tùy theo phán đoán của bản thân để tham gia đánh, mức đặt cược từ 50.000 đồng đến 400.000 đồng. Sau khi đặt tiền xong, người cầm cái mở bát thấy tổng quân đĩ có mặt cùng màu số chẵn (2 hoặc 4) thì người đặt cửa chẵn thắng v ngược lại. Người cầm cái lấy tiền người thua trả cho người thắng, nếu thiếu thì bỏ tiền của mình ra thanh toán cho người thắng, nếu thừa thì được thu về.
Khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày khi các con bạc đang sát phạt lẫn nhau thì bị công an huy n C phát hi n bắt quả tang Hồ Thiên T, Lê Quyết C, Bùi Đức H, Nguy n Xuân B, Phan Sỹ T v Tô Đình T, thu giữ trên chiếu bạc 20.500.000 đồng, 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 04 quân đĩ cắt từ lá bài tulokho; thu trong ví Phan Sỹ T 2.000.000 đồng, trong người Trần Văn Q (Người đến xem) 4.670.000 đồng; Thu giữ 3 v da, 06 đi n thoại di động và 06 xe mô tô các loại. Lợi dụng lúc lộn xộn khi bắt giữ, Tôn V bỏ trốn, đến ng y 20/5/ 2017 ra đầu thú và nộp lại 200.000 đồng khi bỏ trốn mang theo. Quá trình điều tra Lê Văn T tự nguy n nộp lại 1.000.000 đồng và Nguy n Văn H tự nguy n nộp lại 400.000 đồng cho cơ quan điều tra
Tại Bản án sơ thẩm số 23/2017/HSST ngày 07/9/2017 của Tòa án nhân dân huy n Can Lộc, tỉnh H Tĩnh tuyên bố các bị cáo Hồ Thiên T, Lê Quyết C, Bùi Đức H, Nguy n Xuân B, Tô Đình T, Lê T, Tôn Vư, Phan Sỹ T phạm tội "Đánh bạc”. Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Gá bạc”
- Áp dụng khoản 1 điều 248, điểm h, p khoản 1, khoản 2 điều 46 Bộ luật Hình sự 1999 đối với các bị cáo Hồ Thiên T và Tôn V. Áp dụng thêm điểm x khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 đối với Hồ Thiên T
- Áp dụng khoản 1 điều 248, điểm h, p, q khoản 1 điều 46 Bộ luật Hình sự 1999; điểm x khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 đối với các bị cáo Lê Quyết C v Bùi Đức H.
Xử phạt: + Hồ Thiên T 13 (mười ba) tháng tù
+ Lê Quyết C 10 (mười) tháng tù
+ Bùi Đức H 10 (mười) tháng tù
+ Tôn V 08 (tám) tháng tù
- Áp dụng khoản 1 điều 248, điểm h, p khoản 1 điều 46 Bộ luật Hình sự 1999. Xử phạt Phan Sỹ T 07 (bảy) tháng tù.
- Áp dụng khoản 1, khoản 3 điều 249, điểm p khoản 1, khoản 2 điều 46 Bộ luật Hình sự 1999, điểm x khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự 2015. Xử phạt Lê Văn T 12 (Mười hai) tháng tù.
Các bị cáo Nguy n Xuân B, Lê T, Tô Đình T bị xử phạt từ 06- 07 tháng tù, cho hưởng án treo. Xử phạt bị cáo Nguy n Văn H 8.000.000đ.
Phạt bổ sung các bị cáo từ 3.500.000đ đến 5.000.000đ
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên án phí, xử lý vật chứng, bi n pháp tư pháp và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 20/9/2017 các bị cáo Hồ Thiên T, Tôn V kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt v xin được hưởng án treo.
Ng y 19/9/2017 bị cáo Lê Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt v xin được hưởng án treo.
Ng y 20/9/2017 các bị cáo Lê Quyết C, Phan Sỹ T kháng cáo xin được hưởng án treo.
Ng y 02/10/2017 Bùi Đức H có đơn kháng cáo quá hạn xin giảm nhẹ hình phạt v xin được hưởng án treo.
Ng y 30/10/2017 To án nhân dân tỉnh H Tĩnh có Quyết định số 01/2017/QĐPT chấp nhận kháng cáo quá hạn của Bùi Đức H.
Tại phiên to phúc thẩm các bị cáo vẫn giữa nguyên nội dung đơn kháng cáo.
Sau khi phân t ch, đánh giá các tình tiết của vụ án, đại di n Vi n kiểm sát nhân dân tỉnh H Tĩnh đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm a khoản 2 Điều 248 BLTTHS không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 23/2017/HSST ngày 07/9/2017 của To án nhân dân huy n Can Lộc, tỉnh H Tĩnh.
NH N Đ NH CỦA TOÀ N:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ v o các t i li u trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên to , Hội đồng x t xử nhận định như sau:
[1]. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như án sơ thẩm. Hành vi của các bị cáo gây nguy hại cho xã hội, đã xâm phạm trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an xã hội trên địa bàn. Các bị cáo T, C, H, V, T, T, B, T, T đã sử dụng 27.100.000 đồng dùng vào vi c đánh bạc, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự. Bị cáo Lê Văn T dùng nh mình để các con bạc đánh bạc trái phép nhằm thu 1.000.000 đồng tiền hồ đã phạm vào tội “Gá bạc”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó bản án sơ thẩm x t xử các bị cáo về tội “Đánh bạc” và tội “Gá bạc” theo khoản 1 Điều 248, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, không oan sai.
[2]. X t t nh chất, h nh vi phạm tội v nội dung kháng cáo của các bị cáo, Hội đồng x t xử nhận thấy:
[2.1]. Trong vụ án n y Hồ Thiên T l người khởi xướng, cầm cái, mượn địa điểm, vay tiền để đánh bạc v l người sử dụng nhiều tiền nhất để đánh bạc, do đó bị cáo l người có vai trò thứ nhất trong vụ án. Vì vậy, cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt tù giam đối với bị cáo l ho n to n phù hợp, tương xứng với vai trò, vị tr của bị cáo trong vụ án. Tuy nhiên, x t thấy bị cáo phạm tội lần đầu v thuộc trường hợp t nghiêm trọng; quá trình điều tra, tại phiên to sơ thẩm, phiên to phúc thẩm bị cáo th nh khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo thuộc di n gia đình có công với cách mạng, bố l thương binh hạng 4/4 v được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba, gia đình thuộc hộ cận ngh o. Vì vậy, cần xem x t giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt, nhằm thể hi n sự khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo.
[2.2] Đối với bị cáo Lê Văn T l người sử dụng nh mình, tạo điều ki n để cho các đối tượng đánh bạc v thu lợi bất ch nh 1000.000 đồng, do đó cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo l ho n to n phù hợp. Tuy nhiên, x t thấy quá trình điều tra, tại phiên to sơ thẩm, phiên to phúc thẩm bị cáo tỏ ra th nh khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có bố l b nh binh mất sức 41% v được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba, bản thân đang phải chăm sóc bố mẹ gi v em gái t n tật. Vì vậy, cần xem x t giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt, nhằm thể hi n sự khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo.
[2.3]. X t kháng cáo của các bị cáo Lê Quyết C, Bùi Đức H, Tôn V v Phan Sỹ T Hội đồng x t xử thấy:
Bị cáo Lê Quyết C quá trình điều tra, tại phiên to sơ thẩm, phiên to phúc thẩm th nh khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có bố l thương binh hạng 4/4 v được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba; bản thân bị cáo được cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Ngh An v Công an huy n Can Lộc đề nghị khoan hồng v giảm nhẹ hình phạt vì đã t ch cực giúp đ cơ quan Công an trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm. Mặt khác, sau khi x t xử sơ thẩm bị cáo đã tự nguy n nộp 4.000.000đ tiền hình phạt bổ sung.
Bị cáo Bùi Đức H quá trình điều tra, tại phiên to sơ thẩm, phiên to phúc thẩm th nh khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bản thân được công an phường Đ, thị xã H đề nghị xem x t giảm nhẹ trách nhi m hình sự vì có công trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm; hi n tại bị cáo đang thờ anh trai l Li t sỹ; bị cáo có sức kho yếu phải thường xuyên v o B n vi n điều trị v vừa mới ra vi n. Sau khi x t xử sơ thẩm bị cáo đã tự nguy n nộp 4.000.000đ tiền hình phạt bổ sung.
Bị cáo Tôn V quá trình điều tra, tại phiên to sơ thẩm, phiên to phúc thẩm th nh khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguy n ra đầu thú; bị cáo thuộc di n gia đình ch nh sách, số tiền dùng v o vi c đánh bạc không lớn.
Bị cáo Phan Sỹ T l người tham gia đánh bạc sau v nghỉ trước, số tiền dùng v o vi c đánh bạc không lớn. Quá trình điều tra, tại phiên to sơ thẩm v phiên to phúc thẩm th nh khẩn khai báo v thực sự ăn năn hối cải. Mặt khác, sau khi x t xử sơ thẩm bị cáo đã tự nguy n nộp 3.500.000đ tiền hình phạt bổ sung.
Hội đồng x t xử x t thấy các bị cáo Lê Quyết C, Bùi Đức H, Tôn V v Phan Sỹ T tham gia đánh bạc do bị cáo Hồ Thiên T rủ rê; các bị cáo đều phạm tội lần đầu v thuộc trường hợp t nghiêm trọng, được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 46 BLHS năm 1999 v khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015; các bị cáo đều không có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú ổn định. Do đó, x t thấy không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội m cần áp dụng Điều 60 Bộ luật hình sự, giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm, nhưng cho các bị cáo được hưởng án treo, tạo điều ki n cho bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa phương, nhằm thể hi n sự khoan hồng v t nh nhân đạo của pháp luật đối với các bị cáo.
[3]. Về án ph : Kháng cáo của các bị cáo được chấp nhận nên không phải chịu án ph Hình sự phúc thẩm.
V các lẽ trên,
QUYẾT Đ NH
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 248, điểm c, đ khoản 1 Điều 249 Bộ luật tố tụng hình sự:
1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Hồ Thiên Tám v Lê Văn Tuấn. Sửa bản án sơ thẩm, giảm một phần hình phạt cho bị cáo Tám v bị cáo Tuấn.
Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Quyết C, Bùi Đức H, Tôn V v Phan Sỹ T. Sửa bản án sơ thẩm số 23/2017/HSST ngày 07/9/2017 của Tòa án nhân dân huy n C, tỉnh H Tĩnh. Giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm, nhưng cho các bị cáo C, H, V, T được hưởng án treo.
Tuyên bố các bị cáo Hồ Thiên T, Lê Quyết C, Bùi Đức H, Tôn V v Phan Sỹ T phạm tội “Đánh bạc”.
Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Gá bạc”.
- Áp dụng khoản 1 điều 248, điểm h, p khoản 1, khoản 2 điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm x khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự 2015: Xử phạt Hồ Thiên T 11 (mười một) tháng tù. Thời hạn tù t nh từ ng y thi h nh án, nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ng y 19/5/2017 đến ng y 22/5/2017.
- Áp dụng khoản 1 điều 249, điểm p khoản 1, khoản 2 điều 46, điều 47 Bộ luật hình sự năm 1999, điểm x khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự 2015: Xử phạt Lê Văn T 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.
- Áp dụng khoản 1 điều 248, điểm h, p, q khoản 1, khoản 2 điều 46, điều 60 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm x khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015:
Xử phạt Lê Quyết C 10 (mười) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 20 tháng kể từ ng y tuyên án phúc thẩm.
Xử phạt Bùi Đức H 10 (mười) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 20 tháng kể từ ng y tuyên án phúc thẩm.
- Áp dụng khoản 1 điều 248, điểm h, p khoản 1, khoản 2 điều 46, điều 60 Bộ luật Hình sự năm 1999:
Xử phạt Tôn V 08 (tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 16 tháng kể từ ng y tuyên án phúc thẩm.
Xử phạt Phan Sỹ T 07 (bảy) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 14 tháng kể từ ng y tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Lê Quyết C cho UBND xã T, huy n C, tỉnh H Tĩnh quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Bùi Đức H cho UBND phường Đ, thị xã H, tỉnh H Tĩnh quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Tôn V cho UBND xã V, huy n C, tỉnh H Tĩnh quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Phan Sỹ T cho UBND xã K, huy n C, tỉnh H Tĩnh quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hi n theo quy định tại khoản 1 điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
- Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 điều 248, khoản 3 điều 249 Bộ luật hình sự năm 1999, phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo Hồ Thiên T, Lê Quyết C v Bùi Đức H mỗi bị cáo 4.000.000 (Bốn tri u) đồng; Xử phạt Tôn V, Phan Sỹ T mỗi bị cáo 3.500.000 (Ba tri u năm trăm) đồng; Xử phạt Lê Văn T 5.000.000 (Năm tri u) đồng.
Các bị cáo Lê Quyết C, Bùi Đức H mỗi bị cáo đã nộp 4.000.000đ, bị cáo Phan Sỹ T đã nộp 3.500.000đồng tiền hình phạt bổ sung tại Chi cục thi h nh án dân sự huy n C, tỉnh H Tĩnh, nên các bị cáo C, H, T được trừ v o số tiền đã nộp.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 99 BLTTHS, điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ng y 30/12/2016 quy định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án, các bị cáo Hồ Thiên T, Lê Quyết C, Bùi Đức H, Tôn V, Lê Văn T v Phan Sỹ T không phải chịu án ph hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hi u lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hi u lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh; - VKSND, TAND Huy n Can Lộc; - Công an huy n Can Lộc; - Chi cục THADS huy n Can Lộc; - Bị cáo; - Lưu Văn thư; - Lưu hồ sơ vụ án. Các Thẩm hán Nguy n Thị B ch Đào Trương Thị Lệ Thu | THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hồ Đức Quang HỘI ĐỒNG X T XỬ H C THẨM Thẩm phán –Chủ toạ phiên tòa Hồ Đức Quang |