vanban.org

Bản án 132/2017/DSST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: khoản 1 Điều 228 và khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí.

1- Cho anh Nguyễn Văn K được ly hôn với chị Nguyễn Thụy Nga M. 2- Về án phí: Anh Nguyễn Văn K phải chịu 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng án phí Hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng dự phí đã nộp theo biên lai thu số 14561 ngày 30 tháng 6 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dâ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "K-M"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: khoản 1 Điều 228 và khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
hfTÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAI LẬY
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 132/2017/DSST
Ngày 19/9/2017
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sâm

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phan Văn Thật

Ông Huỳnh Văn Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thảo Lan-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

Trong ngày 19 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 261/2017/ TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2017 về việc “Tranh chấp xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 123/2017/QĐST-HNGĐ ngày 22/8/2017; Quyết định hoãn phiên tòa số 97/2017/QĐST-HNGĐ ngày 07/9/2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1991; Địa chỉ: Ấp B, xã V, huyện C, tỉnh T.

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thụy Nga M, sinh năm 1990; Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện C, tỉnh T.

(Anh K có đơn xin giải quyết vắng mặt, chị Nga M vắng mặt không lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Nguyễn Văn K trình bày: Anh với chị Nguyễn Thụy Nga M xác lập quan hệ vợ chồng và có đăng ký kết theo giấy chứng nhận kết hôn số: 56 ngày 13/7/2016 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện C cấp; nguyên nhân anh xin ly hôn là do vợ chồng có nhiều xung đột, không hợp nhau về lối sống thường xuyên cải nhau nên không thể sống chung. Nay anh yêu cầu ly hôn với chị Nga M.

Về con chung: không có

Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn chị Nguyễn Thụy Nga M sau khi Tòa án thụ lý và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử quyết định hoãn phiên tòa về việc Anh K xin ly hôn nhưng chị đều vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về việc vắng mặt của các đương sự tại phiên tòa: Anh Nguyễn Văn K có đơn xin giải vắng mặt tại phiên tòa theo qui định tại khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ Luật tố tụng Dân sự nên được chấp nhận. Đối với chị Nguyễn Thụy Nga M đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do, căn cứ khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử theo thủ tục vắng mặt.

Về quan hệ hôn nhân: Anh K với chị Nga M xác lập quan hệ vợ chồng từ tháng 7 năm 2016, có đăng ký kết hôn theo qui định của Luật Hôn nhân và Gia đình. Anh K cho rằng mâu thuẩn vợ chồng đã trầm trọng, nguyên nhân chị xin ly hôn là do vợ chồng có nhiều xung đột, không hợp nhau về lối sống nên thường xuyên cải nhau. Nay anh yêu cầu được ly hôn với chị Nga M. Đối với chị Nga M sau khi Tòa án thụ lý và đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như: thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử... nhưng chị cũng không có ý kiến gì phản đối với yêu cầu của Anh K xin ly hôn chị và cũng không có nguyện vọng được hàn gắn, đoàn tụ điều đó cho thấy tình cảm vợ chồng đã thật sự tan vỡ, không còn khả năng tiếp tục duy trì quan hệ vợ chồng, do đó yêu cầu xin ly hôn của Anh K là phù hợp với qui định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên chấp nhận.

Về con chung: Anh K khai không có.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh K khai không có nên không đặt ra xem xét.

Về án phí Anh K phải chịu án phí Hôn nhân sơ thẩm theo qui định pháp luật.

Về quyền kháng cáo Anh K và chị Nga M được quyền kháng cáo theo qui định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: khoản 1 Điều 228 và khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí.

Xử:

1- Cho anh Nguyễn Văn K được ly hôn với chị Nguyễn Thụy Nga M.

2- Về án phí: Anh Nguyễn Văn K phải chịu 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng án phí Hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng dự phí đã nộp theo biên lai thu số 14561 ngày 30 tháng 6 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cai Lậy, xem như thi hành xong phần án phí.

5- Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày ngày kể từ tống đạt hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ