vanban.org

Bản án 1319/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Thị Thu H và anh Lê Hồng V được ly hôn.

Về con chung: Chị Huỳnh Thị Thu H và anh Lê Hồng V không có con chung, HĐXX không xem xét. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Huỳnh Thị Thu H không yêu cầu, HĐXX không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Huỳnh Thị Thu H ly hôn anh Lê Hồng V"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Thị Thu H và anh Lê Hồng V được ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ QUY NHƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1319/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 28/11/2022
V/v Ly hôn giữa chị H và anh V

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Văn Thảo Linh Phương.

- Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Vân

Bà Trần Thị Phối

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Trúc Phương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa Lý - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1058/2022/TLST-HN ngày 26 tháng 8 năm 2022 về việc tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 332/2022/QĐXX-ST ngày 21 tháng 10 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên toà số 312/2022/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Thu H, sinh năm 1984; cư trú tại: 43 đường P, phường N, TP. Quy Nhơn, Bình Định.

2. Bị đơn: Anh Lê Hồng V, sinh năm 1965; cư trú tại: 43 đường P, phường N, TP. Quy Nhơn, Bình Định.

(Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 23/6/2022 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Huỳnh Thị Thu H trình bày:

Chị và anh Lê Hồng V đi đến hôn nhân do tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 02/3/2015 tại UBND phường N, TP. Quy Nhơn. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống không hạnh phúc, nguyên nhân do anh V thường hay cờ bạc dẫn đến nợ nần, chị đã khuyên rất nhiều lần nhưng anh V vẫn không thay đổi, vì vậy giữa vợ chồng thường xuyên xảy ra tranh cãi, xúc phạm và thiếu sự tôn trọng lẫn nhau. Mâu thuẫn giữa hai bên ngày càng trầm trọng nên vào tháng 11/2020 chị đã gửi đơn ly hôn đến TAND TP. Quy Nhơn, sau khi được Toà án động viên hoà giải, chị đã rút đơn để vợ chồng có cơ hội đoàn tụ. Nhưng từ đó đến nay mâu thuẫn giữa chị và anh V vẫn không thể hàn gắn được. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, xin Toà giải quyết cho chị được ly hôn với anh V để ổn định cuộc sống. Hiện nay sức khỏe của chị bình thường, không có thai.

Về con chung: Chị và anh V không có con chung, không yêu cầu tòa giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Lê Hồng V: đã được Toà triệu tập hợp lệ đến Toà để khai báo, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hoà giải và tham gia phiên Toà nhưng anh V đều cố tình vắng mặt.

+ Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật về tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

- Về tố tụng: Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền, thời hiệu, quan hệ tranh chấp và xác định đúng tư cách pháp lý những người tham gia tố tụng. Tại phiên tòa HĐXX, thư ký và những người tham gia tố tụng chấp hành đúng theo luật tố tụng Dân sự. Riêng bị đơn không thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình nên phải chịu hậu quả pháp lý về việc không tuân thủ quy định của pháp luật.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị Huỳnh Thị Thu H.

- Về án phí: Đương sự phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử xét thấy:

Về tố tụng: Bị đơn anh Lê Hồng V cư trú tại 43 P, phường N, TP. Quy Nhơn, Bình Định. Do đó, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn.

Chị Huỳnh Thị Thu H có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Lê Hồng V là bị đơn trong vụ án, đã được Tòa triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị H, anh V.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Thị Thu H và anh Lê Hồng V đi đến hôn nhân do tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường N, Tp. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định vào năm 2015 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống không hạnh phúc. Theo chị H nguyên nhân do anh V thường hay cờ bạc dẫn đến nợ nần, vợ chồng thường xuyên xảy ra kình cãi, thiếu sự tôn trọng lẫn nhau. Tháng 11/2020 chị đã gửi đơn ly hôn đến TAND TP. Quy Nhơn, sau khi được Toà động viên hoà giải, chị đã rút đơn để vợ chồng có cơ hội đoàn tụ. Nhưng từ đó đến nay mâu thuẫn giữa chị và anh V vẫn không thể hàn gắn. Chị và gia đình đã nhiều lần khuyên nhưng anh V không thay đổi, vợ chồng sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay, không có quan tâm, không có trách nhiệm với nhau. Quá trình giải quyết vụ án anh V cố tình vắng mặt không đến Tòa. Ngày 14/9/2022 Tòa đã kết hợp với chính quyền địa phương đến nhà anh V để lấy lời khai nhưng không có anh V ở nhà, vì vậy Tòa đã lập biên bản lấy lời khai không được để làm bằng. Ngày 21/10/2022 chị H có đơn xin Tòa xét xử vắng mặt.

Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị H và anh V đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 56 luật hôn nhân và gia đình, HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H để giải phóng cho đôi bên.

Về quan hệ con chung: Chị H và anh V không có con chung nên HĐXX không xem xét.

Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Chị H không yêu cầu, HĐXX không xem xét.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14, chị H phải nộp 300.000đ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định phát biểu quan điểm giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 207, ho n 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào các Điều 51, 56, của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ điểm a kho n 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Thị Thu H và anh Lê Hồng V được ly hôn.

2. Về con chung: Chị Huỳnh Thị Thu H và anh Lê Hồng V không có con chung, HĐXX không xem xét.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Huỳnh Thị Thu H không yêu cầu, HĐXX không xem xét.

4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Huỳnh Thị Thu H phải nộp 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0004402 ngày 26/8/2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Quy Nhơn. Chị H đã nộp đủ án phí HNGĐST.

5. Về quyền kháng cáo: Các bên đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại UBND nơi cư trú.

Trong trường hợp b n án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người ph i thi hành án dân sự có quyền tho thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ