- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 1316/2017/HNGĐ-ST Ngày: 29/9/2017 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản chung khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Chung Cảnh Long
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Kim Liên
2. Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền – Kiểm sát viên.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Võ Công Danh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn – Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 29 tháng 9 năm 2017, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 711/2017/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2017 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 394/2017/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 336/2017/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 9 năm 2017 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Phùng Thị H, sinh năm: 1980 (có mặt)
Địa chỉ: 9/2 tổ 19, ấp A, xã B, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh
2. Bị đơn: Ông Đào Hoàng L, sinh năm: 1980 (vắng mặt)
Địa chỉ: 51/3Y ấp C, xã B, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án và trong quá trình xét xử tại Tòa án, nguyên đơn là bà Phùng Thị H trình bày:
Bà H và ông Đào Hoàng L tự nguyện tìm hiểu, chung sống và có đăng ký kết hôn với nhau theo Giấy chứng nhận kết hôn số 17, quyển số 01/2005, do Ủy ban nhân dân phường D, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 16/5/2005.
Cuộc sống chung của bà H và ông L hạnh phúc. Từ giữa năm 2016 đến nay, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do ông L nghiện ma túy, cờ bạc, rượu chè về đánh bà H nên vợ chồng không còn tình cảm với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay bà H xin được ly hôn với ông Đào Hoàng L.
Về con chung: Bà H và ông Đào Hoàng L có 02 con chung tên Đào Tấn P, sinh ngày 08/10/2014 và Đào Ngọc Tường V, sinh ngày 04/4/2005. Bà H yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, tự nguyện không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện tại, cả 02 con chung đều do bà H đang trực tiếp nuôi dưỡng. Bà H đang làm may gia công tại nhà, không có hợp đồng lao động, thu nhập khoảng từ 05 đến 07 triệu đồng mỗi tháng nên có khả năng nuôi dưỡng con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành triệu tập ông L hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng ông L vẫn vắng mặt không có lý do nên vụ án không tiến hành hòa giải được và vụ án được đưa ra xét xử công khai.
Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Thẩm phán thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn đúng quy định của pháp luật. Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Xác định đúng người tham gia tố tụng. Quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử thực hiện đúng quyền hạn theo quy định của pháp luật.
- Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định pháp luật, tuân theo nội quy phiên tòa. Đương sự có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng dân sự.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà Phùng Thị H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và bị đơn là ông Đào Hoàng L, địa chỉ: 51/3Y ấp C, xã, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về tố tụng: Bị đơn ông Đào Hoàng L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông L theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về yêu cầu của đương sự:
Căn cứ vào lời khai của bà Phùng Thị H và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ thì bà H và ông Đào Hoàng L đã chung sống với nhau từ năm 2005, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường D, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 16/5/2005 theo giấy chứng nhận kết hôn số 17, quyển số 01/2005 nên quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông L là hợp pháp.
Bà H cho rằng cuộc sống vợ chồng lúc đầu hạnh phúc. Từ giữa năm 2016, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do ông L nghiện ma túy, cờ bạc, rượu chè về đánh đập bà Hoa và vợ chồng đã sống ly thân với nhau. Trong thời gian sống ly thân, vợ chồng cũng không có biện pháp gì hàn gắn.
Theo Biên bản xác minh ngày 25/8/2017 của Ban nhân dân ấp C, xã B, huyện Hóc Môn: Bà H và ông L có xảy ra mâu thuẫn với nhau, hiện tại vợ chồng đã sống ly thân.
Xét quá trình sống chung giữa các bên thực tế có xảy ra mâu thuẫn, mức độ mâu thuẫn các bên không dung hòa được mà càng kéo dài càng trầm trọng hơn, giữa vợ chồng không còn tình cảm, không còn sự thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Ông L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông L vẫn không đến và không có ý kiến, thể hiện ông L không quan tâm đến quan hệ hôn nhân của ông và bà H. Xét tình trạng mâu thuẫn giữa bà H và ông L trầm trọng, cuộc sống chung thực sự không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân cũng không đạt được. Do đó, việc bà H yêu cầu ly hôn với ông L là có cơ sở giải quyết.
Về con chung: Bà H và ông Đào Hoàng L có 02 con chung tên Đào Tấn P, sinh ngày 08/10/2014 và Đào Ngọc Tường V, sinh ngày 04/4/2005. Bà H yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung, tự nguyện không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung.
Tại bản tự khai ngày 12/7/2017, cháu Đào Ngọc Tường V, sinh ngày 04/4/2005, ở độ tuổi từ đủ 07 tuổi đến dưới 18 tuổi, có nguyện vọng sống chung với mẹ nếu trường hợp ba mẹ ly hôn với nhau.
Đối với con chung Đào Tấn P, sinh ngày 08/10/2014
Căn cứ vào Khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.”
Xét, con chung Đào Tấn P, sinh ngày 04/10/2014, tính đến thời điểm xét xử chưa đủ 36 tháng tuổi và bà H có công việc may gia công, thu nhập từ 05 đến 07 triệu đồng mỗi tháng nên bà H đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Do đó, bà H yêu cầu trực tiếp nuôi cả 02 con và tự nguyện không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung là có cơ sở.
Về tài sản chung, nợ chung: bà H khai là không có; tuy nhiên ông vắng mặt, không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về tài sản chung.
Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà Phùng Thị H là có cở sở.
Về án phí: Bà Phùng Thị H phải chịu án phí dân sự về giải quyết ly hôn là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110 và Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Phùng Thị H và ông Đào Hoàng L.
Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 17, quyển số 01/2005 ngày 16/5/2005, do Ủy ban nhân dân phường D, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Phùng Thị H và ông Đào Hoàng L không còn giá trị pháp lý.
2. Về con chung:
2.1. Giao 02 con chung Đào Tấn Ph, sinh ngày 08/10/2014 và Đào Ngọc Tường V, sinh ngày 04/4/2005 cho bà Phùng Thị H trực tiếp nuôi dưỡng.
2.2. Ông Đào Hoàng L không cấp dưỡng nuôi con. Ông L được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được quyền cản trở.
Vì quyền lợi mọi mặt của người con, khi có yêu cầu của cha hoặc mẹ, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con, hoặc hạn chế quyền thăm nom, chăm sóc con của người không trực tiếp nuôi con.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phùng Thị H phải chịu án phí dân sự về giải quyết ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) mà bà H đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2016/0032088 ngày 27/6/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Hoa đã nộp đủ án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ tuyên án. Trường hợp, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND TPHCM - Chi cục THADS H. Hóc Môn - VKSND H. Hóc Môn; - UBND P. D, Q. Bình Tân; - Đương sự; - Lưu : VT, hồ sơ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chung Cảnh Long |