vanban.org

Bản án 1315/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

84, Điều 110 và Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? 84, Điều 110 và Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÓC MÔN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 1315/2017/HNGĐ-ST
Ngày: 29/9/2017
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con,
chia tài sản chung khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Chung Cảnh Long

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Kim Liên

2. Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Võ Công Danh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn – Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí

Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Mến – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2017, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn,

Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 807/2017/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2017 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 399/2017/QĐST-HNGĐ ngày 01 tháng 9 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 343/2017/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 9 năm 2017 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thanh B, sinh năm 1981 (có mặt);

Địa chỉ: 45/4A, ấp 3, xã A, huyện Hóc Môn, Thành Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông Hồ Anh T, sinh năm 1976 (vắng mặt);

Địa chỉ: 1/7A ấp H, xã B, huyện Hóc Môn, Thành Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án và

trong quá trình xét xử tại Tòa án, nguyên đơn là bà Nguyễn Thanh B trình bày:

Bà B và ông T tự nguyện tìm hiểu, chung sống và có đăng ký kết hôn

với nhau theo Giấy chứng nhận kết hôn số 10, quyển số 01/2012 do Ủy ban nhân dân xã B, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 20/02/2012.

Cuộc sống chung của bà B và ông T hạnh phúc. Từ giữa năm 2016 đến

nay, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp nhau, ông T thường đi chơi qua đêm, không quan tâm vợ con, không chăm lo kinh tế gia đình nên vợ chồng không còn tình cảm với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay bà B xin được ly hôn với ông Hồ Anh T.

Về con chung: Bà B và ông Hồ Anh T có 01 con chung tên Hồ Nguyễn

Anh C, sinh ngày 05/12/2012. Bà B yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung và tự nguyện không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện tại, con chung Hồ Nguyễn Anh C do bà B đang trực tiếp nuôi dưỡng. Bà B và ông T đã sống ly thân từ giữa năm 2016 đến nay. Bà B hiện đang may gia công tại nhà và cho thuê phòng trọ, thu nhập hàng tháng khoảng 17 triệu đồng nên có đủ điều kiện trực tiếp nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành triệu tập ông T hợp lệ

đến lần thứ 2 nhưng ông T vẫn vắng mặt không có lý do nên vụ án không tiến hành hòa giải được và vụ án được đưa ra xét xử công khai.

Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành

phố Hồ Chí Minh:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của

Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Thẩm phán thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn đúng quy định của pháp luật. Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Xác định đúng người tham gia tố tụng. Quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử thực hiện đúng quyền hạn theo quy định của pháp luật.

- Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ

án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định pháp luật, tuân theo nội quy phiên tòa. Đương sự có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng dân sự.

- Về nội dung giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội

đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thanh B.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án

tranh chấp về ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và bị đơn là ông Hồ Anh T, địa chỉ: 1/7A ấp H, xã B, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về tố tụng: Bị đơn ông Hồ Anh T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ

đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông T theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về yêu cầu của đương sự:

Căn cứ vào lời khai của bà Nguyễn Thanh B và căn cứ vào các tài liệu

có trong hồ sơ thì bà Bình và ông Hồ Anh T đã chung sống với nhau từ năm 2012, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 20/02/2012 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 10, quyển số 01/2012 nên quan hệ hôn nhân giữa bà B và ông T là hợp pháp.

Bà B cho rằng cuộc sống vợ chồng lúc đầu hạnh phúc. Từ giữa năm

2016, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do tính tình không hợp nhau, ông T thường đi chơi qua đêm, không quan tâm vợ con, không chăm lo kinh tế gia đình và vợ chồng đã sống ly thân với nhau. Trong thời gian sống ly thân, vợ chồng cũng không có biện pháp gì hàn gắn.

Theo Biên bản xác minh ngày 29/8/2017 của Ban nhân dân ấp H, xã C,

huyện Hóc Môn: Việc mâu thuẫn giữa bà B và ông T thì Ban nhân dân ấp không nắm rõ.

Xét quá trình sống chung giữa các bên thực tế có xảy ra mâu thuẫn, mức

độ mâu thuẫn các bên không dung hòa được mà càng kéo dài càng trầm trọng hơn, giữa vợ chồng không còn tình cảm, không còn sự thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Ông T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông T vẫn không đến và không có ý kiến, thể hiện ông T không quan tâm đến quan hệ hôn nhân của ông và bà B. Xét tình trạng mâu thuẫn giữa bà B và ông T trầm trọng, cuộc sống chung thực sự không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân cũng không đạt được. Do đó, việc bà B yêu cầu ly hôn với ông T là có cơ sở giải quyết.

Về con chung: Bà B và ông Hồ Anh T có 01 con chung tên Hồ Nguyễn

Anh C, sinh ngày 05/12/2012. Bà B yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung, tự nguyện không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện tại, con chung do bà B trực tiếp nuôi dưỡng. Xét, bà B may gia công tại nhà và cho thuê phòng trọ, có thu nhập khoảng 17 triệu đồng mỗi tháng nên bà B đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Do đó, bà B yêu cầu trực tiếp nuôi con và tự nguyên không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung là có cơ sở.

Về tài sản chung, nợ chung: bà Bình khai là không có; tuy nhiên ông T vắng mặt, không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về tài sản chung, nợ chung.

Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đề nghị Hội

đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thanh B là có cở sở.

Về án phí: Bà Nguyễn Thanh B phải chịu án phí dân sự về giải quyết

ly hôn là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,

Điều 147, khoản 2 Điều 227; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều

84, Điều 110 và Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và

Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thanh B và ông

Hồ Anh T.

Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 10, quyển số 01/2012 do Ủy ban

nhân dân xã B, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 20/02/2012 cấp cho bà Nguyễn Thanh B và ông Hồ Anh T không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung:

2.1. Giao con chung Hồ Nguyễn Anh C, sinh ngày 05/12/2012 cho bà

Nguyễn Thanh B trực tiếp nuôi dưỡng.

2.2. Ông Hồ Anh T không cấp dưỡng nuôi con. Ông T được quyền thăm

nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được quyền cản trở.

Vì quyền lợi mọi mặt của người con, khi có yêu cầu của cha hoặc mẹ,

Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con, hoặc hạn chế quyền thăm nom, chăm sóc con của người không trực tiếp nuôi con.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thanh B phải chịu án phí dân sự

về giải quyết ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) mà bà B đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2016/0032270 ngày 18/7/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà B đã nộp đủ án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ tuyên

án. Trường hợp, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ