vanban.org

Bản án 1312/2025/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 25/09/2025 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/09/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

C n cứ khoản 3 Điều 308 và Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Trang Thị Đ. Hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 57/2024/DS-ST ngày 13-9-2024 của Toà án nh n d n thành phố B tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (nay là T a án nh n d n khu vực X – Thành phố Hồ Chí Minh). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Trang Thị Đ - Nguyễn Thị V"
  • Tòa quyết gì? C n cứ khoản 3 Điều 308 và Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự;
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1312/2025/DS-PT
Ngày: 25-9-2025
V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Minh Vỹ

Các Thẩm phán: Bà Đào Thị Huệ

Ông Trịnh Hoàng Anh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguy n Thị Hà Vy – Thư ký T a án nh n d n Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Vẹn - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 18 và 25 tháng 9 n m 2025 tại trụ s T a án nh n d n Thành phố Hồ Chí Minh (cơ s 1) xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 61/2025/TLPT-DS ngày 07 tháng 3 n m 2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án d n sự sơ thẩm số 57/2024/DS-ST ngày 13 tháng 9 n m 2024 của Toà án nh n d n thành phố B tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (nay là T a án nh n d n khu vực X – Thành phố Hồ Chí Minh) bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 99/QĐ-PT ngày 15 tháng 4 n m 2025 Quyết định hoãn phiên t a số 103/2025/QĐ-PT ngày 06 tháng 5 n m 2025 Quyết định tạm ngừng phiên t a số 51/2025/QĐ-PT ngày 19 tháng 6 n m 2025, Thông báo về thời gian địa điểm m lại phiên t a số 13885/2025/TB-TA ngày 14 tháng 8 n m 2025 và Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số 15446/2025/TB-TA ngày 27 tháng 8 n m 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trang Thị Đ sinh n m 1962.

Địa chỉ: Tổ A ấp B xã L thành phố B tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường T Thành phố Hồ Chí Minh) (có mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:

Bà Trang Thị Ngọc T, sinh n m 1999.

Địa chỉ: Tổ A ấp B xã L thành phố B tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường T Thành phố Hồ Chí Minh) theo Giấy ủy quyền ngày 02-7-2024 (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn:

Ông Cao Thanh T1 – Luật sư thuộc V n ph ng L2 – Đoàn Luật sư thành phố H (có mặt).

- Bị đơn: Bà Nguy n Thị V sinh n m 1950.

Địa chỉ: Ấp B xã L thành phố B tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường T Thành phố Hồ Chí Minh) (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Bùi V n B sinh n m 1958.

Địa chỉ: Tổ A ấp B xã L thành phố B tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường T Thành phố Hồ Chí Minh) (có mặt).

2. Ông Trần V n Đ1 sinh n m 1942.

Địa chỉ: Ấp B xã L thành phố B tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường T Thành phố Hồ Chí Minh) (vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

3. Ông Nguy n Thanh T2 sinh n m 1956.

Địa chỉ: Tổ I ấp T xã L thành phố B tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường T Thành phố Hồ Chí Minh) (vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

4. Ủy ban nh n d n thành phố B tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng:

Chủ tịch Ủy ban nh n d n phường T Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ: Tỉnh lộ 52 phường T Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

- Người kháng cáo: Bà Trang Thị Đ – Nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Trang Thị Đ và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

N m 1982 vợ chồng bà Đ nhận chuyển nhượng của ông Trần V n L diện tích đất 6.603m2 thuộc thửa số 103 tờ bản đồ số 21 (cũ là thửa 47 tờ bản đồ 19) tại xã L, thành phố B tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu loại đất trồng c y l u n m. Bà Đ đã sử dụng đất để canh tác ổn định từ n m 1982 cho đến n m 1994 thì được Ủy ban nhân d n thị xã B tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên do sự nhầm lẫn của chính quyền địa phương nên đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 47 của bà Đ cho bà Trang Thị H chị gái bà Đ c n cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 46 của bà Trang Thị H cho bà Đ.

Ngày 12-11-2010, bà Đ và bà H đến V n ph ng C để làm Hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình cá nh n cho nhau. Theo đó bà Đ nhận lại thửa đất số 47 (mới 103) bà H nhận lại thửa 46 tờ bản đồ 19 tại xã L thành phố B tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Hộ bà Nguy n Thị V có thửa đất bên trong không có lối đi nên khoảng n m 2009 vợ chồng bà Đ đã cho hộ bà V mượn một phần đất làm lối đi có chiều rộng khoảng 03m chạy dài khoảng 30m. Sau đó bà V tự ý đi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất này mà không được sự đồng ý của bà Đ.

Tháng 07-2022, bà V tự ý đổ bê tông phần đất mượn làm lối đi bà Đ không đồng ý nhưng bà V nói chính quyền cho phép bà và đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà nên bà có quyền.

Do đó bà Đ làm đơn kh i kiện yêu cầu bà Nguy n Thị V phải trả lại cho bà Đ diện tích 90m2 đất thuộc thửa 47 (mới 103) tờ bản đồ 19 (mới 21) tọa lạc tại xã L thành phố B tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường T Thành phố Hồ Chí Minh).

Sau khi tiếp cận Sơ đồ vị trí do Trung tâm K1 lập ngày 21-3-2023 phần diện tích đất mà bà Đ yêu cầu là 92m2.

Ngày 29-5-2024, bà Trang Thị Đ bổ sung yêu cầu kh i kiện như sau:

Yêu cầu bà Nguy n Thị V phải trả lại phần đất diện tích 57 7m2 thuộc thửa 103 (cũ 47) tờ bản đồ số 21 (cũ 19) tọa lạc tại xã L thành phố B tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo Sơ dồ vị trí do Trung tâm K1 lập ngày 21-3-2023 cho bà Đ.

Ngày 16-7-2024, bà Trang Thị Đ thay đổi bổ sung yêu cầu kh i kiện như sau:

- Yêu cầu bà Nguy n Thị V trả lại cho bà Trang Thị Đ phần đất lấn chiếm có diện tích 269 0m2 (gồm 193 8m2 + 43,7m2 + 29,1m2 + 2,4m2) thuộc thửa số 79 tờ bản đồ số 21 xã L thành phố B Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Yêu cầu bà Nguy n Thị V trả lại cho bà Trang Thị Đồng P diện tích đất 59,5m2 (gồm 57 7m2 + 1,8m2) thuộc thửa số 103 tờ bản đồ số 21 xã L, thành phố B Bà Rịa - Vũng Tàu theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD 102008 ngày 14-11-2011 đứng tên bà Trang Thị Đ.

- Yêu cầu bà Nguy n Thị V trả lại phần đất có diện tích 40 6m2 thuộc thửa 90 tờ bản đồ số 21 xã L thành phố B tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Hủy 01 phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BI 724162 ngày 10-5-2012 đứng tên bà Nguy n Thị V.

Bị đơn Bà Nguyễn Thị V trình bày:

Bà là người sử dụng diện tích 8373 9m2 thuộc thửa 79 tờ bản đồ 21 tọa lạc tại xã L thành phố B tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BI 724162 (số cũ C439178) do Ủy ban nh n d n thành phố B cấp ngày 10-5-2012. Toàn bộ diện tích đất này bà nhận chuyển nhượng từ khoảng n m 1977 và sử dụng ổn định từ đó cho đến nay. Phần đất này có một phần tiếp giáp trực tiếp với đường giao thông bà sử dụng làm đường đi từ mấy chục n m nay và gần đ y do ngập lụt nên bà đổ xi m ng để đi lại cho sạch sẽ thuận tiện. Phần đất này thuộc một phần thửa 79 tờ bản đồ 21 của bà không liên quan gì đến thửa 47 tờ bản đồ 19 của nguyên đơn. Bản đồ số hóa và Sơ đồ vị trí thửa đất đều thể hiện thửa 79 tờ bản đồ 21 của bà tiếp giáp với đường giao thông hiện hữu. Bà sử dụng đất theo hiện trạng pháp lý và hiện trạng thực tế từ n m 1977 trước bà Đ nhiều n m vì bà Đ sau này mới chuyển đến.

Việc bà Đồng kh i K yêu cầu bà phải trả lại cho bà Đ diện tích 92m2 đất thuộc thửa 47 tờ bản đồ 19 xã L là không có c n cứ do đó bà không đồng ý với yêu cầu kh i kiện của bà Đ.

Bà V cũng đã nhận được Thông báo về việc thụ lý yêu cầu kh i kiện bổ sung của bà Trang Thị Đ số 09/2024/TB-TLVA ngày 29-5-2024 và Thông báo về việc thụ lý yêu cầu thay đổi bổ sung yêu cầu kh i kiện số 11/2024/TB-TLVA ngày 16-7-2024 và bà cũng không đồng ý với yêu cầu kh i kiện bổ sung của bà Đ.

Sau khi tiếp cận Sơ đồ vị trí do Trung tâm K1 lập ngày 21-3-2023, bà Nguy n Thị V có yêu cầu phản tố cụ thể:

Yêu cầu bà Trang Thị Đ phải tháo dỡ phần lưới B40 trả lại phần diện tích 29,1m2 đất thuộc thửa 79 (cũ là 48) tờ bản đồ số 21 (cũ là 19) xã L thành phố B tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo Sơ đồ vị trí do Trung tâm K1 lập ngày 21-3-2023 cho vợ chồng bà V.

Bà Nguy n Thị V có Đơn yêu cầu không tiến hành h a giải đối với các yêu cầu thay đổi bổ sung yêu cầu kh i kiện của bà Đ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Văn B trình bày:

Ông là chồng của bà Trang Thị Đ. Ông đồng ý với lời trình bày và yêu cầu kh i kiện của bà Đ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn Đ1 trình bày:

Ông là chồng bà V. Đất đang tranh chấp giữa bà Đ, bà V là tài sản chung của ông với bà V. Ông đồng ý với lời trình bày và yêu cầu phản tố của bà V, không có ý kiến gì thêm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thanh T2 trình bày:

Ông là chủ sử dụng thửa đất số 90 tờ bản đồ số 21 tọa lạc tại ấp B xã L thành phố B tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Ông đã biết việc tranh chấp đất giữa bà Đ và bà V. Phần đất hiện gia đình bà V đang sử dụng làm lối đi vào nhà bà V có diện tích 40 8m2 thuộc thửa đất số 90 tờ bản đồ số 21 của ông thì ông đồng ý để cho gia đình bà V sử dụng và không có ý kiến gì.

Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu trình bày:

Bà Trang Thị Đ được Ủy ban nh n d n thị xã B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BC 836227 ngày 09-11-2010 đối với diện tích 6.317 0m2, thửa đất 46 tờ bản đồ số 19 xã L thành phố B tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đo đạc n m 1994.

Bà Trang Thị H được Ủy ban nh n d n thị xã B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu số C 439192 ngày 29-11-1994 đối với diện tích 6.603,0m2 thửa đất số 47 tờ bản đồ 19 xã L thành phố B đo đạc n m 1994. Sau đó bà H được V n ph ng đ ng ký quyền sử dụng đất chỉnh lý biến động vào ngày 28-6-2010 về việc giảm diện tích từ 6.603 0m2 thành 6.117,0m2 thửa đất số 103 (cũ là 47) tờ bản đồ số 21 (cũ là 19) theo Sơ đồ vị trí ngày 07-5-2010.

Ngày 12-11-2010, bà Trang Thị Đ với bà Trang Thị H lập Hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp tại V n ph ng C theo đó bà Trang Thị Đ được quyền sử dụng diện tích 6.117 0m2 thửa đất số 103 (cũ 47) tờ bản đồ số 21 (cũ 19) theo Sơ đồ vị trí ngày 07-5-2010 và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD 102008 ngày 14-01-2011.

Bà Nguy n Thị V được Ủy ban nh n d n thị xã B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C 439178 ngày 29-11-1994 đối với thửa đất số 48 219 tờ bản đồ số 19 diện tích 14.264m2 tọa lạc tại xã L thành phố B. Ngày 08-02-1996, bà V chuyển nhượng cho ông Trần V n L1 diện tích đất trồng c y l u n m là 6.148m2 thuộc thửa đất 219 tờ bản đồ 19. Diện tích c n lại là 8.116 0m2. Ngày 14-4-2009, bà Nguy n Thị V có làm thủ tục cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được Ủy ban nh n d n thị xã B (nay là thành phố B) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền s hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số BI 724162 ngày 10-5-2012 thửa đất số 79 (cũ 48) tờ bản đồ số 21 (cũ 19) diện tích 8.373 9m2 (cũ 8.116m2) tọa lạc tại xã L thành phố B

Người làm chứng ông Nguyễn Văn H1 trình bày:

N m 2017 ông B, bà Đ có thuê ông x y dựng hàng rào trụ bê tông lưới B40 trên hàng rào cũ là trụ c y c m và kẽm gai. Trong lúc đang x y thì có ông Đ1 gặp ông B xin mượn phần diện tích đất để m đường đi ra ngoài. Ông B đồng ý và nói chỉ cho đi nhờ. Ông B nói ông dịch hàng rào vô vị trí mới.

Người làm chứng ông Trần Văn L trình bày:

N m 1982 ông chuyển nhượng cho bà Trang Thị Đ một khu đất diện tích khoảng 9.000m2 với giá 4 chỉ vàng. Khi ông chuyển nhượng đất cho bà Đ thì hộ kế bên là bà N ông không biết bà Nguy n Thị V. Đất bà N không có lối đi mà đi b ng qua đất người khác.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 57/2024/DS-ST ngày 13 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (nay là Tòa án nhân dân khu vực X – Thành phố Hồ Chí Minh) đã tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu kh i kiện của bà Trang Thị Đ đối với bà Nguy n Thị V:

Buộc bà Nguy n Thị V trả lại cho bà Trang Thị Đ diện tích đất 59 5m2 (gồm 57 7m2 + 1,8m2) thuộc thửa số 103 (cũ là 47) tờ bản đồ số 21 (cũ là 19) xã L thành phố B tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (Theo Sơ đồ vị trí do Trung tâm K1 lập ngày 21-3-2023).

2. Không chấp nhận yêu cầu kh i kiện của bà Trang Thị Đ đối với bà Nguy n Thị V về:

- Yêu cầu bà Nguy n Thị V trả lại cho bà Trang Thị Đ diện tích đất 269,0m2 (gồm 193 8m2 + 43,7m2 + 29,1m2 + 2,4m2) thuộc thửa 79 (cũ là 48) tờ bản đồ số 21 (cũ là 19) xã L thành phố B tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Yêu cầu bà Nguy n Thị V trả lại cho bà Trang Thị Đ diện tích đất 40 6m2 thuộc thửa 90 tờ bản đồ số 21 xã L thành phố B tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Hủy 01 phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BI 724162 do Ủy ban nh n d n thị xã B cấp ngày 10-5-2012 cho bà Nguy n Thị V.

3. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Nguy n Thị V đối với bà Trang Thị Đ: Buộc bà Trang Thị Đ trả lại cho bà Nguy n Thị V diện tích đất 29 1m2 thuộc thửa 79 (cũ là 48) tờ bản đồ số 21 (cũ là 19) xã L thành phố B tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo Sơ đồ vị trí do Trung tâm K1 lập ngày 21-3-2023.

Ngoài ra bản án sơ thẩm c n quyết định về chi phí tố tụng án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 26-9-2024 nguyên đơn bà Trang Thị Đ có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm yêu cầu T a án cấp phúc thẩm sửa toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn và không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn bà Nguy n Thị V.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu kh i kiện và thay đổi yêu cầu kháng cáo yêu cầu T a án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm giao hồ sơ vụ án cho T a án cấp sơ thẩm giải quyết lại do bản án sơ thẩm có nhiều vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng và chưa thu thập đầy đủ tài liệu chứng cứ.

Bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử hủy toàn bộ bản án sơ thẩm giao hồ sơ vụ án cho T a án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo đúng quy định của pháp luật do T a án cấp sơ thẩm có nhiều vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng và chưa thu thập đầy đủ tài liệu chứng cứ nhưng lại xử bác yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn x m phạm quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn.

Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và không bổ sung thêm tài liệu chứng cứ.

- Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn nộp trong thời hạn luật định. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên t a phúc thẩm những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng d n sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

C n cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được xem xét tại phiên t a trên cơ s kết quả tranh tụng tại phiên t a Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Đơn kháng cáo của nguyên đơn bà Trang Thị Đ nộp trong thời hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt hoặc đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nên Hội đồng xét xử c n cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng d n sự xử vắng mặt các đương sự này.

Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn:

Theo đơn kh i kiện ban đầu (ngày 17-8-2022) nguyên đơn bà Trang Thị Đ chỉ yêu cầu bị đơn trả lại diện tích đất 90m2 thuộc thửa đất số 47 tờ bản đồ số 19 xã L thành phố B tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (Bl 09). Ngày 29-5-2024, nguyên đơn có đơn kh i kiện bổ sung (lần 1) yêu cầu bị đơn trả lại diện tích đất 92,1m2 và 57,7m2 thuộc thửa đất nêu trên (Bl 15). Ngày 15-7-2024 nguyên đơn có đơn kh i kiện bổ sung (lần 2) yêu cầu bị đơn trả lại tổng diện tích đất 369,1m2 thuộc các thửa đất số 79 103 và 90 tờ bản đồ số 21 xã L thành phố B tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (Bl 19).

Ngày 31-5-2024 bị đơn bà Nguy n Thị V có đơn phản tố yêu cầu nguyên đơn trả lại diện tích đất 29 1m2 thuộc thửa đất số 79 tờ bản đồ số 21 xã L, thành phố B tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Các diện tích đất mà nguyên đơn yêu cầu kh i kiện bổ sung và diện tích đất mà bị đơn yêu cầu phản tố nằm các vị trí khác nhau thuộc các thửa đất khác nhau trong đó có một phần đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguy n Thanh T2 nhưng các yêu cầu mới này chưa được Ủy ban nh n d n cấp xã h a giải cơ s theo khoản 2 Điều 203 Luật Đất đai n m 2013 nhưng cấp sơ thẩm vẫn thụ lý giải quyết là vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng thuộc trường hợp thụ lý yêu cầu kh i kiện và yêu cầu phản tố khi chưa đủ điều kiện kh i kiện tranh chấp về đất đai theo quy định của pháp luật.

Khi tiếp nhận đơn phản tố của bị đơn T a án cấp sơ thẩm không hướng dẫn bị đơn làm đơn xin mi n án phí cũng không ra Thông báo nộp tiền tạm ứng án phí đối với bị đơn mà vẫn thụ lý yêu cầu phản tố này là vi phạm quy định tại Điều 195 Bộ luật Tố tụng d n sự. Sau khi thụ lý yêu cầu phản tố cấp sơ thẩm không tống đạt thông báo thụ lý yêu cầu phản tố cho Viện kiểm sát và các đương sự trong vụ án nên nguyên đơn không biết việc bị đơn có yêu cầu phản tố và không thực hiện được quyền của nguyên đơn đối với yêu cầu phản tố của bị đơn. Đ y cũng là vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng làm ảnh hư ng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

Cấp sơ thẩm cũng không thực hiện thủ tục công khai tài liệu chứng cứ và h a giải đối với yêu cầu phản tố của bị đơn mà đã đưa vụ án ra xét xử là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng vi phạm quy định về nguyên tắc h a giải trong tố tụng d n sự theo Điều 205 Bộ luật Tố tụng d n sự n m 2015.

Về việc thu thập tài liệu chứng cứ: Nguyên đơn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu n m 1994 theo bản đồ địa chính xã L n m 1994 số hóa n m 2004. Đến n m 2010 nguyên đơn mới làm thủ tục hoán đổi đất (do cấp nhầm thửa) với bà Trang Thị H. Tuy nhiên khi đo đạc phần đất tranh chấp cấp sơ thẩm không yêu cầu cơ quan đo đạc lồng ghép sơ đồ vị trí đo vẽ hiện trạng với bản đồ số hóa n m 2004 để xác định phần đất mà nguyên đơn được cấp giấy chứng nhận lần đầu có bao gồm phần đất tranh chấp hay không? mà chỉ yêu cầu lồng ghép với bản đồ địa chính đo đạc mới n m 2008 là không phù hợp. B i vì diện tích và ranh giới thửa đất nguyên đơn được Nhà nước công nhận là theo bản đồ địa chính n m 1994 số hóa n m 2004 chứ không phải theo bản đồ địa chính n m 2008 vì vậy nếu lồng ghép bản đồ đo đạc n m 2008 sẽ không thể hiện chính xác diện tích đất nguyên đơn được sử dụng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp.

Theo tài liệu chứng cứ thu thập tại Chi nhánh V n ph ng đ ng ký đất đai thành phố C thì n m 2010 bà Trang Thị Đ và bà Trang Thị H có tiến hành thủ tục hoán đổi hai thửa đất số 46 và 47 do bị cấp nhầm. Khi hoán đổi cơ quan nhà nước có tiến hành đo đạc theo hiện trạng. Tại biên bản làm việc ngày 07-6-2010 của V n ph ng đ ng ký quyền sử dụng đất thị xã B (Bl 62) có chữ ký của bà Trang Thị H và bà Trang Thị Đ thể hiện 02 bà đồng ý với Sơ đồ vị trí lập ngày …/06/2010 (không ghi ngày) nhưng hồ sơ cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa 47 không có Sơ đồ vị trí nào đo vẽ tháng 6-2010 mà chỉ có 01 Sơ đồ vị trí đo vẽ ngày 07-5-2010 (Bl 64) theo yêu cầu của bà Trang Thị H (không phải là chủ sử dụng thực tế của thửa 47). Theo Sơ đồ vị trí này diện tích thửa 47 giảm c n 6.117m2 ranh giới thửa đất này và thửa 48 của bị đơn có sự thay đổi và xuất hiện con đường nối từ thửa 48 của bị đơn ra đường công cộng đi qua phần đất thửa 47 của nguyên đơn (là phần đất đang tranh chấp). Tuy nhiên Sơ đồ vị trí ngày 07-5-2010 nêu trên lại không được bà Đ và bà H đồng ý xác nhận nên không có c n cứ để cho rằng bà Đ biết và đồng ý với việc điều chỉnh ranh giới theo Sơ đồ vị trí này.

Lời khai của bà V về việc hình thành con đường này cũng có sự m u thuẫn cụ thể: Tại biên bản h a giải ngày 13-6-2022 của Ủy ban nh n d n xã L, thành phố B (Bl 30-31), bà V thừa nhận phần diện tích lối đi vào nhà bà trước đ y của bà Trang Thị Đ cho bà đi từ giải phóng cho đến nay. Nhưng trong các lời khai tại hồ sơ vụ án và tại phiên t a phúc thẩm bà lại cho rằng không đi nhờ qua đất của bà Đ mà chỉ đi nhờ qua đất của ông T2. Bà V cũng khẳng định bà không làm thủ tục đo đạc chỉnh lý nhập phần đất tranh chấp vào thửa đất số 48 của bà việc này do cơ quan nhà nước tự thực hiện. Nhưng cấp sơ thẩm không thu thập chứng cứ và xác minh làm rõ con đường đi vào thửa 48 của bị đơn theo Sơ đồ vị trí trên hình thành từ khi nào? Trên cơ s thỏa thuận hay giao dịch d n sự nào? Vì sao theo bản đồ địa chính n m 1994 số hóa nằm 2004 hoàn toàn không có con đường này nhưng đến bản đồ địa chính n m 2008 lại xuất hiện con đường này?

Do cấp sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng và chưa thu thập đầy đủ tài liệu chứng cứ để làm c n cứ giải quyết vụ án mà cấp phúc thẩm không thể khắc phục được nên cần phải hủy toàn bộ bản án sơ thẩm giao hồ sơ vụ án cho cấp sơ thẩm giải quyết lại theo quy định của pháp luật.

Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng: Cấp sơ thẩm có trách nhiệm giải quyết các khoản tiền này khi giải quyết lại vụ án này.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn không phải chịu.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

C n cứ khoản 3 Điều 308 và Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Trang Thị Đ.

1. Hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 57/2024/DS-ST ngày 13-9-2024 của Toà án nh n d n thành phố B tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (nay là T a án nh n d n khu vực X – Thành phố Hồ Chí Minh).

Giao hồ sơ vụ án cho T a án nh n d n khu vực X – Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết lại theo đúng quy định của pháp luật.

2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Trang Thị Đ không phải chịu.

3. Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (25-9-2025).

Cỡ chữ