vanban.org

Bản án 131/2026/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Luật Ngân hàng Nhà nước;

Luật Thi hành án dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng TMCP V - Lê Huy S"
  • Tòa quyết gì? Luật Ngân hàng Nhà nước;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Ngân hàng Nhà nước; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - HÀ NỘI
Bản án số: 131/2026/DS - ST
Ngày: 30 - 3 - 2026.
Về việc tranh chấp hợp đồng tín
dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Khắc Hải.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Khanh.

2. Ông Đặng Tương Phục.

- Thư ký phiên toà: Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Tuấn Minh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Cao Đức Lộc – Kiểm sát viên.

Ngày 30/3/2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 5- Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 451/2025/TLST-DS ngày 07 tháng 11 năm 2025 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2026/QĐXXST - DS ngày 25 tháng 02 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 65/2026/QDST-DS ngày 13/3/2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V

Địa chỉ trụ sở: Số 89 đường L, phường Đ, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô chí D. Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Văn Đ. Chức vụ: Trưởng phòng xử lý nợ pháp lý khách hàng cá nhân 5- Ngân hàng thương mại cổ phần V (Theo Văn bản ủy quyền số 30/2025/UQN-CTQT ngày 28/7/2025 của Chủ tịch Hội đồng quản trị).

Người đại diện tham gia tố tụng theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Đình V – Chuyên viên xử lý nợ (Theo Văn bản ủy quyền số 1368/2025/UQN – CTQT ngày 07/11/2025 của Trưởng phòng xử lý nợ pháp lý khách hàng cá nhân 5 - Ngân hàng thương mại cổ phần V).

Vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Lê Huy S, sinh năm 1990.

Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx do Cục cảnh sát DKQL cư trú và DLQG về dân cư cấp ngày 22/8/2017.

Địa chỉ: Thôn D, xã G, TP. Hà Nội.

(Vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 06/10/2025 và quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP V trình bày:

Ngày 26/3/2022, anh Lê Huy S có vay của Ngân hàng TMCP V số tiền là 120,000,000 đồng (Bằng chữ: Một trăm, hai mươi triệu đồng...) theo Hợp đồng thẻ tín dụng số 165-P-9785447 ngày 26/03/2022. cụ thể:

Số tiền cho vay: 120,000,000 đồng (Bằng chữ: Một trăm, hai mươi triệu đồng...)

Loại thẻ tín dụng: VPBank Diamond World Credit.

Mục đích vay: Vay phục vụ nhu cầu đời sống.

Thời hạn cho vay: 60 tháng (theo quy định của VPBank).

Lãi suất cho vay trong hạn: 33,48%.

Lãi suất quá hạn: bằng 150% lãi suất trong hạn.

Ngân hàng đã tiến hành giải ngân số tiền 120.000.000đ cho anh Lê Huy S ngày 28/4/2022. Quá trình thực hiện hợp đồng, anh Lê Huy S đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ với VPBank kể từ ngày 15/07/2022, nên toàn bộ dư nợ còn lại của các hợp đồng tín dụng nêu trên đã chuyển thành nợ quá hạn và phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn theo thỏa thuận. Ngân hàng đã tiến hành nhắc nhở đôn đốc anh Lê Huy S trả nợ theo hợp đồng tín dụng nhưng không có kết quả nên buộc phải khởi kiện ra Tòa án.

Tạm tính đến ngày công khai chứng cứ và hòa giải ngày 12/02/2026, anh Lê Huy S còn nợ VPBank số tiền là:

+ Nợ gốc thẻ tín dụng: 120,000,000 đồng.

+ Nợ lãi thẻ tín dụng : 299,099,959 đồng.

Tổng cộng: 419,099,959 đồng.

Ngân hàng V đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông Lê Huy S phải thanh toán gốc và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng số 165-P-9785447 cũng như phải thanh toán nợ phí thẻ tín dụng chịu lãi suất theo Hợp đồng cho vay đã ký.

Đối với bị đơn Lê Huy S: Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Lê Huy S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh vẫn vắng mặt, không đến Tòa án trình bày các ý kiến và yêu cầu của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và cũng không cung cấp tài liệu chứng cứ cho Tòa án, Tòa án đã tiến hành đầy đủ thủ tục thông báo, niêm yết công khai các văn bản tố tụng nhưng anh S vẫn vắng mặt.

Tại phiên tòa ngày 30/3/2026, người đại diện của Ngân thương mại cổ phần V là ông Nguyễn Đình V vắng mặt nhưng có đơn xin vắng mặt và có văn bản đề nghị: Tính đến hết ngày 30/3/2026, tổng số tiền anh S còn nợ Ngân hàng thương mại cổ phần V theo hợp đồng tín dụng số 165-P-9785447 là:

+ Nợ gốc thẻ tín dụng: 120,000,000 đồng.

+ Nợ lãi thẻ tín dụng : 322,934,231 đồng.

Tổng cộng: 442,934,231 đồng.

(bằng chữ: Bốn trăm bốn mươi hai triệu chín trăm ba mươi tư nghìn hai trăm ba mươi mốt đồng).

Ngoài ra, Ngân hàng vẫn giữ nguyên các ý kiến, yêu cầu đã trình bày trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ kiện.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 5- Hà Nội tham gia phiên tòa sau khi nhận xét, đánh giá quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và sự chấp hành pháp luật của các đương sự đã xác định:

Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Ngân thương mại cổ phần V đối với anh Lê Huy S.

Về án phí: Đề nghị buộc anh Lê Huy S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định cùa pháp luật. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm cho ngân hàng VP Bank.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các chứng cử, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần V yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng" với anh Lê Huy S có địa chỉ cư trú tại Thôn D, xã D, huyện G, thành phố Hà Nội (nay là Thôn D, xã G, TP Hà Nội); Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5- Hà Nội.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Anh Lê Huy S đã được tống đạt hợp lệ đến phiên tòa hai lần nhưng đều vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự và giành quyền kháng cáo cho đương sự theo quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung: Quá trình giải quyết vụ án, anh Lê Huy S đã được Tòa án tổng đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt, không trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn và không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án. Do đó, Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết vụ án là phù hợp quy định pháp luật.

Về yêu cầu thanh toán nợ gốc của ngân hàng VPBank: Ngày 26/3/2022, anh Lê Huy S có vay của VPBank số tiền là 120,000,000 đồng (Bằng chữ: Một trăm, hai mươi triệu đồng...) theo Hợp đồng thẻ tín dụng số 165-P-9785447 ngày 26/03/2022. cụ thể:

Số tiền cho vay: 120,000,000 đồng (Bằng chữ: Một trăm, hai mươi triệu đồng...)

Mục đích vay: Vay tiêu dùng.

Thời hạn cho vay: 60 tháng (theo quy định của VPBank).

Lãi suất cho vay trong hạn: 33,48%

Lãi suất quá hạn: bằng 150% lãi suất trong hạn.

Ngân hàng đã tiến hành giải ngân số tiền 120.000.000đ cho anh Lê Huy S ngày 28/4/2022. Quá trình thực hiện hợp đồng, anh Lê Huy S đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ với Ngân hàng V kể từ ngày 15/07/2022, nên toàn bộ dư nợ còn lại của các hợp đồng tín dụng nêu trên đã chuyển thành nợ quá hạn và phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn theo thỏa thuận.

Ngoài ra, ngoài ra trong hợp đồng còn thỏa thuận anh S còn phải chịu các khoản phí liên quan đến thẻ nêu cụ thể trong hợp đồng. Như vậy, có đủ cơ sở xác định việc ký kết hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần V và anh S là có thật và các bên tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.

Do anh S vì phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng V theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, xâm phạm đến quyền lợi, ích hợp pháp của Ngân hàng nên Ngân hàng V khởi kiện yêu cầu anh S phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là 120.000.000đ. Yêu cầu buộc anh S phải trả nợ gốc theo Hợp đồng tín dụng đã ký là có cơ sở để chấp nhận.

Về yêu cầu buộc anh S phải chịu lãi theo Hợp đồng tín dụng: Đây là hợp đồng tín dụng được ký kết giữa Ngân hàng với anh Huy nên áp dụng mức lãi suất do các bên thỏa thuận được quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng để xem xét. Các bên thỏa thuận Lãi suất vay thẻ trong hạn: 2,6%/ tháng và quá hạn: 150% lãi trong hạn, tương ứng 3,9%/ tháng. Do kể từ khi giải ngân ngày 28/4/2022 anh S không thanh toán trả tiền gốc, nên từ ngày 15/7/2022 khoản vay bị chuyển nợ quá hạn, toàn bộ lãi được tính theo lãi quá hạn, cụ thể là: Nợ lãi thẻ tín dụng: 322,934,231 đồng.

Như đã phân tích, các thỏa thuận về lãi cũng như phí thẻ tín dụng đều được thỏa thuận trong Hợp đồng thẻ tín dụng số 165-P-9785447 ngày 26/03/2022, thỏa thuận này không trái các quy định pháp luật nên yêu cầu của Ngân hàng V đề nghị buộc anh Lê Huy S phải có nghĩa vụ trả nợ lãi và phí thẻ tín dụng trên là phù hợp và được chấp nhận.

Về yêu cầu buộc anh Lê Huy S phải tiếp tục chịu lãi theo hợp đồng tín dụng đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ của Ngân hàng V: Đây là yêu cầu phù hợp với quy định của Luật tổ chức tín dụng nên được chấp nhận và áp dụng quy định tại Án lệ số 08/2016/AL ngày 17-10-2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao: “Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay" để buộc anh Lê Huy S phải tiếp tục phải chịu lãi theo Hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán hết nợ cho Ngân hàng V.

Từ những nhận định trên, có đủ cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng V, buộc anh Lê Huy S phải thanh toán cho ngân hàng V theo Hợp đồng tín dụng số165-P-9785447 ngày 26/03/2022 đến ngày xứt xử sơ thẩm là ngày 30/3/2026, cụ thể:

+ Nợ gốc thẻ tín dụng: 120,000,000 đồng.

+ Nợ lãi thẻ tín dụng : 322,934,231 đồng.

Tổng cộng: 442,934,231 đồng.

(bằng chữ: Bốn trăm bốn mươi hai triệu chín trăm ba mươi tư nghìn hai trăm ba mươi mốt đồng).

Tại phiên tòa, đại diện viện kiểm sát khu vực 5- Hà Nội đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Tổng giá trị tranh chấp là 409,563,718 đồng. Án phí được xác định là: 20.000.000 đồng + 4% x (442,934,231đ-400,000,000) = 21.716.000đồng (làm tròn số). Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên anh S phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

Ngân hàng thương mại cổ phần V được chấp nhận toàn bộ yêu cầu nên không phải chịu tiền án phí và được hoàn lại tiền tạm ứng án phí là: 9.283.470 đồng (chín triệu hai trăm tám mươi ba nghìn bốn trăm bảy mươi đồng) đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu BLTU/25E số 0014433 ngày 31/10/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

- Điều 351, Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015.

- Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

- Luật Ngân hàng Nhà nước;

- Điều 30, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Luật Thi hành án dân sự.

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V đối với anh Lê Huy S.

2. Buộc anh Lê Huy S có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V các khoản tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 30/3/2026 gồm:

+ Nợ gốc thẻ tín dụng: 120,000,000 đồng.

+ Nợ lãi thẻ tín dụng : 322,934,231 đồng.

Tổng cộng: 442,934,231 đồng.

(Bốn trăm bốn mươi hai triệu chín trăm ba mươi tư nghìn hai trăm ba mươi mốt đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trong trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Anh Lê Huy S phải chịu 21.716.000đồng (Hai mươi mốt triệu bảy trăm mười sáu nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V số tiền 9.283.470 đồng (chín triệu hai trăm tám mươi ba nghìn bốn trăm bảy mươi đồng) đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu BLTU/25E số 0014433 ngày 31/10/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.

4. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm, các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ. Héi thÈm nh©n d©n

ThÈm ph¸n- chñ to¹ phiªn toµ

NguyÔn Kh¾c H¶i Nguyễn Văn Khanh Đặng Tương Phục

Cỡ chữ