- Tranh chấp gì? án hình sự — "mua bán ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Vũ Đức T 07 (bẩy) năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý", thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 09/01/2025.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật hình sự Xử phạt
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH -:- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 131/2025/HSST Ngày 29/4/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Hồng Ninh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đồng Văn Hạnh
2. Bà Nguyễn Thị Hương Linh
Thư ký phiên toà: ông Nguyễn Văn Cảnh – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Trần Anh Tuấn – Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 4 năm 2025, tại phòng xét xử số I Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 96/2025/TLST - HS ngày 27 tháng 3 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2025/QĐXXST - HS ngày 15/4/2025 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Vũ Đức T - Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam;
Sinh ngày: 17/04/1989, tại Quảng Ninh;
Nơi thường trú: tổ 17, khu 3, phường H K, thành phố H L, tỉnh Quảng Ninh;
Nơi ở hiện tại: Tổ 19C, khu 3, phường H K, thành phố H L, tỉnh Quảng Ninh;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ, đoàn thể: không;
Trình độ học vấn: lớp 09/12; Họ tên bố: Vũ Đức D; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị H - Đã chết;
Có vợ là: Bùi Thị C (Đã ly hôn); có 3 con, con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2010;
Tiền án:
- Ngày 28/01/2016, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xử phạt 30 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Ngày 30/5/2016, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai bản án là 60 tháng tù. Ngày 08/12/2019, chấp hành xong toàn bộ hai bản án trên.
- Ngày 03/11/2020, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xử phạt 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 17/01/2023, chấp hành xong toàn bộ bản án.
Tiền sự : không
Nhân thân:
- Ngày 07/10/2011, cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm giáo dục - lao động xã hội Vũ Oai (nay là cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Quảng Ninh). Ngày 05/9/2013, chấp hành xong.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/01/2025, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh.
2. Họ và tên: Đường Tuấn A - Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam;
Sinh ngày: 03/07/1985, tại Hạ Long - Quảng Ninh;
Nơi cư trú: tổ 32, khu 5, phường H K, thành phố H L, tỉnh Quảng Ninh;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: lao động tự do; Chức vụ, đoàn thể: không; Trình độ học vấn: Lớp 10/12;
Họ tên bố: Đường Xuân S; Họ tên mẹ: Trần Thị Mai L
Có vợ là: Vũ Thị H1 – sinh năm 1990; có 3 con, con lớn sinh năm 2007 con nhỏ sinh năm 2012;
Tiền án, Tiền sự: không có;
Nhân thân :
- Ngày 26/4/2011, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xử phạt 3 tháng 13 ngày tù về tội “Trộm cắp tài sản”, được trả tự do tại phiên tòa. Ngày 25/12/2012, chấp hành xong toàn bộ bản án.
- Ngày 06/12/2013, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 17/12/2015, chấp hành xong toàn bộ bản án.
- Ngày 30/9/2021, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 29/6/2022, chấp hành xong toàn bộ bản án.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/12/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh.
* Người làm chứng:
+ Ông Lê Phương Y – vắng mặt
+ Ông Đào Văn Q – có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đường Tuấn A và Vũ Đức T là bạn học và đều sử dụng ma túy, khoảng 13 giờ ngày 14/12/2024, Tuấn A gọi điện thoại từ số 0375.556.766 đến số 0327.288.591 của T hỏi mua của Tài 500.000 đồng ma túy “đá”. Do đang có sẵn ma túy nên T hẹn Tuấn A đến đoạn đường thuộc tổ 1, khu 3, phường Hà Lầm, thành phố Hạ Long để giao dịch mua bán, sau đó, T cho 01 túi ma túy vào vỏ bao thuốc lá Thăng Long cầm đến điểm hẹn. Khoảng 15 phút sau, Tuấn A đến, T đưa cho Tuấn A vỏ bao thuốc lá “Thăng Long”, Tuấn A cầm, mở ra thấy bên trong có 01 túi ma túy, nên trả cho T số tiền 500.000 đồng. Sau khi nhận vỏ bao thuốc lá, Tuấn A lấy gói ma túy bên trong, rồi vứt vỏ bao thuốc lá đi, cầm gói ma túy đi tìm nơi sử dụng, đến khoảng 14 giờ 15 phút cùng ngày, Tuấn A đi bộ đến khu vực tổ 48, khu 3, phường Bạch Đằng, thành phố Hạ Long thì bị Công an phường Bạch Đằng, thành phố Hạ Long kiểm tra, bắt quả tang. Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại Redmi, màu vàng hồng, lắp sim số 0375.556.766 và trong tay trái của Tuấn A có 01 túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng.
Tối cùng ngày, T biết tin Tuấn A bị bắt nên đã bỏ trốn. Đến ngày 09/01/2025, T đến Công an thành phố Hạ Long đầu thú, tạm giữ của T 01 điện thoại Iphone màu hồng, lắp sim số 0339.086.026.
Kết luận giám định số 1882/KL-KTHS ngày 18/12/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Chất tinh thể màu trắng kí hiệu M thu giữ của Tuấn A gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng là 0,153 gam (không phẩy một trăm năm mươi ba gam).
Quá trình điều tra, và tại phiên tòa Vũ Đức T, Đường Tuấn A đều thừa nhận cả hai là bạn học của nhau và đều sử dụng ma túy, đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Vũ Đức T khai nhận do không có nghề nghiệp ổn định, cần tiền tiêu sài cá nhân và sử dụng ma túy nên đã nảy sinh ý định đi tìm mua ma túy đá về bán kiếm lời. Nguồn gốc số ma túy bán cho Đường Tuấn A ngày 14/12/2024, tại đoạn đường thuộc tổ 1, khu 3, phường Hà Lầm, thành phố Hạ Long với giá 500.000 đồng, là do bị cáo mua của một người không quen biết vào sáng ngày 14/12/2024, tại khu vực nghĩa trang Đ o Sen, phường Hà Khánh, bị cáo mua 1.000.000đ ma túy, sau đó chia thành 02 túi nilon, bị cáo đã sử dụng 01 túi, còn 01 túi đã bán cho Đường Tuấn A. Số tiền mua ma túy là tiền do bị cáo lao động làm thuê mà có, số tiền 500.000đ bán ma túy, bị cáo đã tiêu sài cá nhân hết. Chiếc điện thoại di động Iphone màu hồng, là điện thoại bị cáo dùng để liên lạc hàng ngày và liên lạc bán ma túy cho Tuấn A vào ngày 14/12/2024, sim số 0339.086.026 bị cáo lắp vào sau và không có nhu cầu nhận lại. Bị cáo mới chỉ bán 01 lần ma túy cho Đường Tuấn A, sau khi sự việc xảy ra, bị cáo rất ân hận về việc làm của mình nên đã đến Công an đầu thú, thừa nhận bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long truy tố đối với bị cáo đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện và đúng người, đúng tội, không oan.
Bị cáo Đường Tuấn A thừa nhận lời khai của bị cáo Tài về việc bị cáo mua 500.000đ ma túy đá của T vào ngày 14/12/2024 là đúng, thừa nhận khoảng 13 giờ 15 phút ngày 14/12/2024, tại đoạn đường thuộc tổ 1, khu 3, phường Hà Lầm, thành phố Hạ Long bị cáo T đưa cho bị cáo 01 vỏ bao thuốc lá “Thăng Long”, bị cáo cầm, mở ra thấy bên trong có 01 túi ma túy, nên trả cho T số tiền 500.000 đồng. Sau khi nhận vỏ bao thuốc lá, bị cáo lấy gói ma túy bên trong, rồi vứt vỏ bao thuốc lá đi, cầm gói ma túy đi tìm nơi sử dụng, đến khoảng 14 giờ 15 phút cùng ngày, bị cáo đi bộ đến khu vực tổ 48, khu 3, phường Bạch Đằng, thành phố Hạ Long, thì bị Công an phường Bạch Đằng, thành phố Hạ Long kiểm tra, bắt quả tang, thu giữ 01 điện thoại Redmi, màu vàng hồng, lắp sim số 0375.556.766 và trong tay trái của bị cáo 01 túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng.
Bị cáo thừa nhận 01 túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng bị thu giữ đúng là của bị cáo, bị cáo mang đi với mục đích để sử dụng, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện, thừa nhận bản thân được chứng kiến việc niêm phong vật chứng và trực tiếp ký tên vào biên bản niêm phong, được cơ quan Điều tra thông báo về kết luận giám định và không có ý kiến gì khác. Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu vàng hồng, lắp sim số 0375.556.766 là của bị cáo, bị cáo dùng để liên lạc hàng ngày và liên lạc mua bán ma túy với bị cáo T. Số tiền mua ma túy là tiền do bị cáo lao động làm thuê mà có, thừa nhận bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long truy tố đối với bị cáo đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện và đúng người, đúng tội, không oan.
* Người làm chứng ông Lê Phương Y, ông Đào Văn Q là người chứng kiến việc cơ qua Công an kiểm tra, bắt giữ đối với bị cáo Đường Tuấn A ngày 14/12/2024, tại khu vực tổ 48, khu 3, phường Bạch Đằng, thành phố Hạ Long , có lời khai phù hợp với lời khai của bị cáo A về việc khoảng 14 giờ 15 phút ngày 14/12/2024, các ông được chứng kiến, cơ quan Công an kiểm tra một người đàn ông, sau đó các ông được biết người đó tên là Đường Tuấn A. Thu giữ tại trong lòng bàn tay trái bị cáo 01 túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng, chứng kiến bị cáo khai là ma túy đá, mang theo để sử dụng, chứng kiến cơ quan Công an thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu vàng hồng, chứng kiến việc cơ quan Công an niêm phong vật chứng và ký tên vào biên bản niêm phong.
Tại bản cáo trạng số 2103/CT – VKSHL ngày 25/3/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long truy tố Vũ Đức T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; truy tố Đường Tuấn A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long giữ nguyên quyết định truy tố Vũ Đức T, Đường Tuấn A theo nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng: điểm q khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Xử phạt Vũ Đức T từ 07 (bẩy) năm tù đến 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 09/01/2025.
- Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Xử phạt Đường Tuấn A từ 15 (mười lăm) tháng tù đến 18 (mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 14/12/2024.
- Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
+ Tịch thu tiêu hủy: 0,1gam (không phẩy một) Methamphetamine mẫu vật hoàn lại sau giám định bên trong phong bì niêm phong số 1882/KL – KTHS ngày 18/12/2024 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; 01 sim gắn trong điện thoại nhãn hiệu iPhone, màu hồng; 01 sim gắn trong điện thoại nhãn hiệu Redmi, màu vàng hồng.
+ Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại nhãn hiệu iPhone, màu hồng (kiểu dáng Iphone Xs max); 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi, màu vàng hồng.
+ Buộc bị cáo Vũ Đức T phải nộp lại số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) để nộp ngân sách nhà nước.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Hạ Long, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được qui định trong Bộ luật Tố tụng hình sự ; Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà bị cáo Vũ Đức T, Đường Tuấn A khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với chính lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với nội dung bản cáo trạng, phù hợp với vật chứng đã thu giữ, phù hợp với lời khai của người làm chứng, cùng với các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 13 giờ 15 phút ngày 14/12/2024, tại khu vực tổ 1, khu 3, phường Hà Lầm, thành phố Hạ Long, Vũ Đức T có hành vi bán trái phép 0,153 gam ma túy, loại Methamphetamine giá 500.000 đồng cho Đường Tuấn A.
Đến khoảng 14 giờ 15 phút ngày 14/12/2024, tại khu vực thuộc tổ 48, khu 3, phường Bạch Đằng, thành phố Hạ Long, Công an phường Bạch Đằng, thành phố Hạ Long phát hiện bắt quả tang Đường Tuấn A có hành vi tàng trữ trái phép 0,153 gam ma túy, loại Methamphetamine, mục đích sử dụng.
Bị cáo Vũ Đức T, Đường Tuấn A có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự quản lý hành chính của Nhà nước về chất gây nghiện, làm trầm trọng thêm tình hình tội phạm ma tuý ở địa phương. Bị cáo Vũ Đức T đã thực hiện hành vi 01 lần bán trái phép 0,153 gam ma túy, loại Methamphetamine giá 500.000 đồng cho Đường Tuấn A, bản thân bị cáo đã “Tái phạm”, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, vì vậy phạm tội lần này thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” là tình tiết định khung hình phạt theo quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo Vũ Đức T đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được qui định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Đường Tuấn A có hành vi tàng trữ trái phép 0,153 gam ma túy, loại Methamphetamine, mục đích sử dụng, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi phạm tội của bị cáo Đường Tuấn A đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến
07 năm.
2.Phạm tội trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15
năm:
...
q) Tái phạm nguy hiểm”;
Viện kiểm sát truy tố bị cáo Vũ Đức T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được qui định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Đường Tuấn A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, là có căn cứ, đúng qui định của pháp luật.
các bị cáo là người trưởng thành, nhận thức được tác hại của ma tuý và tính trái pháp luật của việc mua bán, tàng trữ trái phép chất ma tuý, nhưng thiếu tu dưỡng bản thân, vì mục đích kiếm lời và thỏa mãn nhu cầu cá nhân dẫn đến việc mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy và phạm tội, vì vậy cần xử phạt các bị cáo nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhưng đều có nhân thân rất xấu. Tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo Vũ Đức T sau khi phạm tội đã ra đầu thú là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự
Về đồng phạm: vụ án không có đồng phạm, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội độc lập, vì vậy phải tự chịu trách nhiệm về hành vi của mình
Sau khi xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên, xét thấy, cần cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian, mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung:
Các bị cáo là người không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- 0,1gam (không phẩy một) Methamphetamine mẫu vật hoàn lại sau giám định bên trong phong bì niêm phong số 1882/KL – KTHS ngày 18/12/2024 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, là vật cấm lưu hành; 01 sim gắn trong điện thoại nhãn hiệu iPhone, màu hồng, bị cáo T không có nhu cầu nhận lại; 01 sim gắn trong điện thoại nhãn hiệu Redmi, màu vàng hồng , không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
+ 01 điện thoại nhãn hiệu iPhone, màu hồng (kiểu dáng Iphone Xs max); 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi, màu vàng hồng, là công cụ phạm tội, cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
+ Số tiền 500.000đ thu được từ bán ma túy, là tiền do pham tội mà có, cần buộc bị cáo Vũ Đức T phải nộp lại, nộp ngân sách nhà nước.
Về án phí:
Bị cáo Vũ Đức T, bị cáo Đường Tuấn A phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Về quyền kháng cáo:
Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 331 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào: điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự
Xử phạt: Vũ Đức T 07 (bẩy) năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý", thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 09/01/2025.
- Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự
Xử phạt: Đường Tuấn A 15 (mười lăm) tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý", thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 14/12/2024.
- Áp dụng: điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
+ Tịch thu tiêu hủy: 0,1gam (không phẩy một) Methamphetamine mẫu vật hoàn lại sau giám định bên trong phong bì niêm phong số 1882/KL – KTHS ngày 18/12/2024 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; 01 sim gắn trong điện thoại nhãn hiệu iPhone, màu hồng; 01 sim gắn trong điện thoại nhãn hiệu Redmi, màu vàng hồng.
+ Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại nhãn hiệu iPhone, màu hồng (kiểu dáng Iphone Xs max); 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi, màu vàng hồng.
+ Buộc bị cáo Vũ Đức T phải nộp lại số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) để nộp ngân sách nhà nước.
Tình trạng vật chứng, tài sản thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 173 ngày 25/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
- Căn cứ: Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án
Bị cáo Vũ Đức T, bị cáo Đường Tuấn A mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: căn cứ vào khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án,Viện kiểm sát nhân dân tỉnh QN - Viện kiểm sát nhân dân TP Hạ Long - CA, TTG, CQCSĐT, CQTHAHS tỉnh QN - Chi cục thi hành án dân sự TP Hạ Long - Ph ng nghiệp vụ CA tỉnh, Bị cáo, THA - Lưu hồ sơ, lưu văn ph ng | THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đ k ) Lê Hồng Ninh |