vanban.org

Bản án 131/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Kim E phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

[2]. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim E 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng. Giao bị cáo Nguyễn Thị Kim E cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai, nơi bị cáo hiện đang sinh sống giám sát, giáo dục. Trong trường hợp bị cáo t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "vi phạm quy định về điều khiển phương tiện gt đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, b…"
  • Tòa quyết gì? [1]. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Kim E phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NHƠN TRẠCH
TỈNH ĐỒNG NAI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 131/2025/HS-ST
Ngày: 17/4//2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH – TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Oanh.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Võ Hồng Đằng 2. Bà Hoàng Thị Cát Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Thanh Thảo là thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch tham gia phiên tòa: ông Vũ Đình Tứ - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 126/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 131/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Kim E (Tên gọi khác: Không); Sinh năm 1972 tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Nơi cư trú: 3 N, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tạm trú: Ấp Thị C, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật.

Trình độ học vấn: 02/12 - Nghề nghiệp: Công Nhân.

Con ông Nguyễn Văn H và bà Trần Thị R

Bị cáo có chồng tên Nguyễn Văn P (đã chết) và có 02 người con (lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 2008).

Tiền án, tiền sự: không có.

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

(Bị cáo có mặt)

Người đại diện cho người bị hại bà Nguyễn Thị Bích T, sinh năm 1988 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp T, xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

Người liên quan: Bà Nguyễn Thị Diễm S, sinh năm 1996

Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 21 giờ 40 phút ngày 06/12/2024, Nguyễn Thị Kim E, sinh năm 1972 ngụ tại 3 N, phường B, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 59B1-561.44 lưu thông trên đường T theo hướng đi từ xã Đ đi xã V. Khi đi đến Km01+400 đường T thuộc ấp T, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai, E điều khiển xe qua bên trái đường rồi đi ngược chiều thì xảy ra va chạm với xe mô tô mang biển kiểm soát 60C2-075.59 do anh Nguyễn Quốc B, sinh năm 1985 ngụ tại ấp T, xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai đang điều khiển lưu thông hướng ngược lại (xã V đi xã Đ). Hậu quả vụ tai nạn làm anh B chết.

Hiện trường: Nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông tại Km01+400 đường T, đường thẳng, trải nhựa bằng phẳng, mặt đường rộng 10m60; được bố trí 2 chiều đường xe chạy được phân chia bằng vạch sơn màu vàng không liên tục. Chọn hướng khám nghiệm từ xã V đi xã Đ, mép đường bên phải theo hướng khám nghiệm làm mép chuẩn, hiện trường lấy trụ điện số 16 bên ngoài mép phải, cách mép trái 2m, cách tâm trục bánh sau xe mô tô BKS: 59B1-561.44 là 12m50 làm mốc hiện trường.

+ Xe mô tô BKS: 59B1-561.44 (ký hiệu 01) sau va chạm, xe nằm ngoài mép chuẩn, xe dựng đứng, đầu xe quay vào mép đường bên trái, từ hình chiếu tâm trục bánh trước và bánh sau của xe mô tô lần lượt cách mép chuẩn là 4m40; 3m.

+ Xe mô tô BKS: 60C2-075.59 (ký hiệu 02) sau va chạm, xe nằm trên chiều đường bên phải hướng khám nghiệm, xe ngã về bên phải, đầu xe quay ra mép chuẩn, từ hình chiếu tâm trục bánh trước và bánh sau của xe mô tô lần lượt cách mép chuẩn là 3m30; 2m30

+ Vết cày thứ nhất (ký hiệu 03) nằm trên chiều đường bên phải, dài 7m30 và có chiều từ xã Đ đi xã V và hơi chếch ra mép chuẩn. Từ điểm đầu vết cày đến điểm cuối vết cày gác chân phía trước (1) cách mép chuẩn lần lượt là 7m30; 0m30.

+ Vết cày thứ hai (ký hiệu 04) nằm trên chiều đường bên phải, dài 12m80 và có chiều từ xã V đi xã Đ và hơi chếch vào mép chuẩn. Từ điểm đầu vết cày đến điểm cuối vết cày, gác chân phía trước (2) cách mép chuẩn lần lượt là 12m80; 2m9. Điểm đầu vết cày (4) cách điểm đầu vết cày (4) là 16m30.

Tại bản kết luận giám định tử thi qua hồ sơ số 2692/KL-KTHS ngày 31/12/2024 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y kết luận nguyên nhân chết của anh Nguyễn Quốc B là do đa chấn thương:

+ Chấn thương sọ não: Nứt sọ thái dương - đỉnh phải, nứt xương đá hai bên và thành xoang bướm phải. Tụ máu dưới màng cứng bán cầu trái. Dập não xuất huyết kèm xuất huyết dưới nhện hai bán cầu. Xuất huyết trong não thất hai bên.

+ Chấn thương ngực: Gãy xương vai phải, gãy xương sườn 2 đến 6 bên phải. Dập rách nhu mô thùy trên và thùy dưới phổi phải, dập nhu mô thùy dưới phổi trái. Tràn khí và dịch màng phổi phải.

Tại phiếu kết quả xét nghiệm số phiếu 24.0102.028221 của Trung tâm y tế huyện N xác định Nguyễn Quốc B, sinh năm 1985:

+ Nồng độ cồn trong máu: Có tìm thấy E1 với hàm lượng 284,2 mg/100ml.

* Vật chứng thu giữ:

- 01 xe mô tô, biển kiểm soát 59B1-561.44 do Nguyễn Thị Kim E điều khiển.

- 01 xe mô tô, biển kiểm soát 60C2-075.59 do Nguyễn Quốc B điều khiển.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên bản cáo trạng đã truy tố, và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim E từ 12 tháng đến 14 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

- Về xử lý vật chứng:

- Qua xác minh xe mô tô biển số 59B1-561.44 là do chị Nguyễn Thị Diễm S làm chủ sở hữu. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trả lại cho S; Xe mô tô biển số 60C2-075.59 do anh Nguyễn Quốc B làm chủ sở hữu, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trả lại cho chị Nguyễn Thị Bích T (là vợ hợp pháp của anh B) là đúng quy định của pháp luật. Trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Thị Kim E đã bồi thường xong về dân sự cho gia đình bị hại. Gia đình bị hại đã làm đơn bãi nại cho bị cáo không yêu cầu gì thêm nên không đặt ra giải quyết.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo E đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ đã được thu thập tại hồ sơ vụ án.

Bị cáo không có ý kiến gì đối với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch.

Lời nói sau cùng của bị cáo tại phiên tòa: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai, kính mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Đại diện bị hại đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Trong hồ sơ vụ án đã có lời khai và ý kiến đầy đủ và không có yêu cầu gì khác trong vụ án. Do đó, việc vắng mặt người đại diện cho bị hại không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vắng mặt đương sự.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người đại diện theo pháp luật của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Kim E đã khai nhận: Vào lúc 21 giờ 40 phút ngày 06/12/2024, tại Km 01 + 400 đường T thuộc ấp T, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Thị Kim E điều khiển xe mô tô biển số 59B1-561.44 đi không đúng phần đường quy định (đi ngược chiều) nên đã xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 60C2-075.59 do anh Nguyễn Quốc B đang điều khiển theo hướng ngược lại. Hậu quả vụ tai nạn làm anh B tử vong. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Kim E điều khiển phương tiện tham gia giao thông không đúng quy định đi ngược chiều gây tai nạn làm bị hại là anh Nguyễn Quốc B bị thương nặng dẫn đến tử vong. Hành vi của bị cáo đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ và phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Như vậy, cáo trạng số 126/CT.VKS ngày 07/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Kim E về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

Về tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo: Dù không mong muốn hậu quả xảy ra nhưng hành vi của bị cáo là nguyên nhân dẫn đến cái chết của bị hại. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây thiệt hại về tính mạng, tài sản, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông được Nhà nước và pháp luật bảo vệ. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội mà bị cáo đã thực hiện nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, lỗi xảy ra ngoài ý muốn của bị cáo. Bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho đại diện bị hại và người đại diện gia đình của bị hại đã có đơn xin bãi nại, không yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Xét có một phần lỗi của bị hại do sử dụng rượu bia với nồng độ quá cao khi tham gia giao thông. Nên xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử xét thấy lỗi của bị cáo là lỗi vô ý, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Trong thời gian tại ngoại không vi phạm gì cho thấy bị cáo tự cải tạo bản thân tốt. Bị cáo là lao động chính trong gia đình. Việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên không cần thiết phạt tù giam bị cáo mà cho bị cáo được hưởng án treo nhằm tạo điều kiện cho bị cáo được tiếp tục làm việc, cải tạo bản thân, sửa chữa sai lầm và cũng để giúp cho bị cáo thấy rõ được tính nhân đạo, khoan hồng của chính sách pháp luật hình sự.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử quyết định cho bị cáo được hưởng hình phạt tù có điều kiện theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017; Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự; Nghị quyết 01/2022 /NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP của Tòa án nhân dân tối cao cũng đủ tác dụng răn đe, cải tạo bị cáo, khuyến khích bị cáo tự tu dưỡng và lao động tại cộng đồng với sự giúp đỡ của gia đình và xã hội.

Về xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện N đã trả lại xe mô tô biển số 59B1-561.44 là do chị Nguyễn Thị Diễm S làm chủ sở hữu. Trả lại xe mô tô biển số 60C2-075.59 do anh Nguyễn Quốc B làm chủ sở hữu cơ quan cho chị Nguyễn Thị Bích T (là vợ hợp pháp của anh B) là đúng quy định của pháp luật.

Trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Thị Kim E đã bồi thường xong về dân sự cho gia đình bị hại. Gia đình bị hại đã làm đơn bãi nại cho bị cáo không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét. [8] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị Kim E phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ; điểm a khoản 1 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự; Nghị quyết 01/2022 /NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP của Tòa án nhân dân tối cao và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1]. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Kim E phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

[2]. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim E 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng.

Giao bị cáo Nguyễn Thị Kim E cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai, nơi bị cáo hiện đang sinh sống giám sát, giáo dục. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68, Điều 69 và Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở đi, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

[3]. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thị Kim E phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[4]. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đại diện bị hại được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ