vanban.org

Bản án 131/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1 Điều 52, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt Nguyễn Văn Thiên P 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 13/5/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "BA 131 NGUYỄN VĂN THIÊN P (251) 19.6.2025 - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 131/2025/HS-ST
Ngày: 19/06/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hoàng Tân

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đỗ Quang Hòa

2. Bà Thái Thục Hiền

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8, Thành

phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên

tòa: Ông Phan Xuân Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí

Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 98/2025/TLST-HS ngày 29/4/2025, theo Quyết

định đưa vụ án ra xét xử số 247/2025/QĐXXST-HS ngày 02/6/2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Thiên P; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 17/3/1990 tại Thành phố Hồ Chí

Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc; Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Không;

Trình độ học vấn: 03/12; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh Long

An; Chỗ ở: Phòng số 19 nhà trọ số A34/17CK9, ấp B, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí

Minh. Con ông: Nguyễn Văn S (đã chết) và bà Lê Thị T (đã chết). Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án: Ngày 04/11/2014, bị Công an Q1 bắt về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày

26/3/2015, Tòa án nhân dân Quận 8 xử phạt 03 năm 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài

sản” theo điểm a, khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự (Bản án hình sự sơ thẩm số

54/2015/HSST). Chấp hành án tại Trại tạm giam C - Bộ C1. Ngày 04/3/2018, được tha tù

về địa phương. Bị cáo chưa thực hiện xong phần bồi thường dân sự và án phí hình sự sơ

thẩm, án phí dân sự sơ thẩm.

Tiền sự: không;

Nhân thân:

- Ngày 13/5/2008, bị Công an Q1 bắt về tội “Cướp giật tài sản”. Ngày 26/9/2008,

Tòa án nhân dân Quận 8 xử phạt 03 năm 6 tháng tù giam về tội “Cướp giật tài sản” theo

điểm d khoản 2 Điều 136 Bộ luật Hình sự (Bản án hình sự sơ thẩm số 323/2008/HSST).

Chấp hành án tại Trại giam C2. Ngày 30/8/2010, được tha tù về địa phương và đã thi hành

xong toàn bộ bản án.

- Ngày 16/7/2012, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận H2 ra Quyết định về việc đưa

người vào Cơ sở chữa bệnh số 5692/QĐ-UBND về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, thời gian 24 tháng tại Trường G và Giải quyết việc làm số 2. Ngày 06/7/2014, hoàn thành thời gian cai nghiện tập trung, hồi gia về địa phương;

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 13/5/2024 và tạm giam từ ngày 22/5/2024, hiện đang

tạm giam tại Trại tạm giam C - Phân trại tạm giam khu vực Quận H. (Bị cáo có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/ Bà Nguyễn Thị Kim Y; sinh năm 1979; địa chỉ: B ấp C, phường B, Quận B,

Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt)

2/ Ông Nguyễn Văn L; sinh năm 1979; địa chỉ: A ấp B, xã B, huyện B, Thành phố

Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

3/ Bà Cam Thị Vân H; sinh năm 1975; địa chỉ: A ấp B, xã B, huyện B, Thành phố

Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ vụ án

được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ 20 phút ngày 13/5/2024, Công an P2, Quận H tuần tra đến trước

số I T, Phường E, Q phát hiện Nguyễn Văn Thiên P đang điều khiển xe mô tô biển số 59U2-545.88 có biểu hiện nghi vẫn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Trong lúc kiểm tra, Phú thả từ trên tay trái xuống đất ngay chỗ P đứng 01 gói nylon chứa tinh thể không màu được dán băng dính màu đen vào 01 thẻ giấy màu đen thì bị Công an phát hiện (P khai nhận đó là ma túy dùng để bán cho người khác). Tiếp tục kiểm tra, Công an phát hiện thu giữ trên gác ba ga treo trên xe của P có 01 túi giấy, bên trong có 01 túi vải chứa 01 khẩu súng bằng kim loại; 04 viên đạn; 01 chai nhựa, bên trong có 01 túi vải màu đỏ ở bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu và 20 gói nylon bên trong không chứa gì. Sau đó, lực lượng Công an tiến hành thu giữ vật chứng và dẫn giải P về trụ sở Công an P2 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Vụ việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 xử lý theo thẩm quyền.

Ngày 14/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 phối hợp với Công an xã

B, huyện B tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn Thiên P tại tại Phòng trọ số A, nhà số A CK9, Ấp B, xã B, huyện B. Kết quả thu giữ:

- Tại khu vực phòng ngủ sát cạnh tường nhà bếp phát hiện: 01 hộp màu đen, bên

trong có chứa 01 gói nylon có chứa chất bột là Heroine của P dùng cho bản thân;

- Tại khu vực phòng ngủ, sát vách tường bên phải từ ngoài vào phát hiện 01 hộp

nhựa màu hồng, bên trong hộp có:

+ 01 khẩu súng dạng ổ xoay, dài khoảng 20cm, báng súng màu gỗ, tại vị trí nòng

súng có chữ SMITH&WESSON, thân súng có chứ MADE IN CHINA.

+ 01 hộp màu trắng bên trong có chứa: 33 vỏ đạn màu xanh, 05 viên đạn nhựa màu

xanh có đầu đạn màu cam, 27 đầu đạn bằng nhựa màu cam, 16 vỏ đạn màu kim loại không có đầu đạn, 03 viên đạn cao su màu đen có đầu đạn màu cam, 01 viên đạn cao su màu đen không có đầu đạn.

Ngày 14/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 ra Quyết định trưng cầu

giám định số 2046/QĐ và ngày 20/5/2024, Phòng K Công an Thành phố H có Bản kết luận giám định số 5959/KL-KTHS, kết luận như sau:

- Gói 01 được niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn Thiên P và

hình dấu Công an P2, Quận H. Bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể. Qua giám định có

khối hượng 0,6034 gam, là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine.

- Gói 02 được niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn Thiên P và

hình dấu Công an P2, Quận H. Bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể. Qua giám định có

khối lượng 6,4689 gam, là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine.

Ngày 15/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 ra Quyết định trưng cầu

giám định số 2064/QĐ và ngày 20/05/2024, Phòng K Công an Thành phố H có Bản kết

luận giám định số 6009/KL-KTHS kết luận: 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi

tên Nguyễn Văn Thiên P và hình dấu Công an xã B, huyện B. Bên trong có 01 gói nylon

chứa chất bột màu trắng. Qua giám định có khối lượng 0,0713 gam, là ma túy ở thể rắn,

loại Heroine.

Ngày 15/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 ra Quyết định trưng cầu

giám định số 2065/QĐ và ngày 29/5/2024, Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ

Chí Minh – Bộ C1 có Bản kết luận giám định số 3005/KL-KTHS kết luận:

- 01 (một) khẩu súng dạng ổ quay, dài khoảng 20cm, báng súng màu gỗ, tại vị trí

nòng súng có chữ SMITH & WESSON, thân súng có chữ MADE IN CHINA (ký hiệu Al).

- 01 (một) hộp giấy màu trắng (ký hiệu A2), bên trong có:

+ 33 (ba mươi ba) vỏ đạn nhựa màu xanh.

+ 05 (năm) viên đạn nhựa màu xanh có đầu đạn màu cam.

+ 27 (hai mươi bảy) đầu đạn bằng nhựa màu cam.

+ 16 (mười sáu) vỏ đạn màu kim loại không có đầu đạn.

+ 03 (ba) viên đạn vỏ bằng xốp màu đen có đầu đạn bằng cao su màu cam.

+ 01 (một) vỏ đạn bằng xốp màu đen không có đầu đạn;

- Khẩu súng gửi giám định (ký hiệu A1) là đồ chơi nguy hiểm hình dạng súng ổ

quay;

- Mẫu vật trong hộp giấy màu trắng gửi giám định (ký hiệu A2) là các viên đạn, vỏ

đạn, đầu đạn đồ chơi nguy hiểm, còn sử dụng để bắn cho một số súng đồ chơi nguy hiểm

có cấu tạo buồng đạn và nguyên lý hoạt động phù hợp các mẫu vật trên không phải vũ khí

quân dụng, không có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí quân dụng.

Ngày 15/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 ra Quyết định trưng cầu

giám định số 2066/QĐ và ngày 21/5/2024, Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ

Chí Minh – Bộ C1 có Bản kết luận giám định số 3004/KL-KTHS kết luận:

- 01 (một) khẩu súng dài khoảng 15 cm, bằng kim loại màu trắng, báng súng màu

nâu, hiệu ZORAKI MOD 914-TD AUTO, số A31ZR3DTS01-2400460.

- 03 (ba) viên đạn bằng kim loại, màu vàng, hình trụ tròn, ký hiệu YAS GLD PAK

9mm.

- 01 (một) vỏ đạn bằng kim loại, màu vàng, hình trụ tròn, ký hiệu YAS GLD PAK

9mm.

- Khẩu súng gửi giám định là công cụ hỗ trợ, thuộc loại súng bắn đạn cao su cỡ

(9x22) mm; không phải là vũ khí quân dụng, không phải là vũ khí có tính năng, tác dụng

tương tự như vũ khí quân dụng.

- 03 (ba) viên đạn gửi giám định là công cụ hỗ trợ, thuộc loại đạn cao su chưa bắn,

cỡ (9x22)mm, không phải là vũ khí quân dụng, không phải là vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí quân dụng, sử dụng được cho khẩu súng nêu trên và các loại súng bắn đạn cao su khác có cấu tạo phù hợp.

- 01 (một) vỏ đạn gửi giám định là vỏ đạn của loại đạn cỡ (9x22)mm, không phải

là vũ khí quân dụng.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1, bị can Nguyễn Văn Thiên P khai nhận:

- Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 12/5/2024, P dùng điện thoại di động của P gọi

cho người thanh niên tên T1 (không rõ lai lịch) sử dụng số điện thoại 0797757403 hỏi mua 200.000 đồng Heroine và 1.500.000 đồng ma túy đá thì T1 đồng ý bán và hẹn P đến khu vực gần phòng tập tạ trên đường H, Phường A, Quận H để giao ma túy và nhận tiền. Đến khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày, P điều khiển xe mô tô biển số 59U2-545.88 đi từ nhà đến điểm hẹn gặp T1. Tín lấy ma túy được quấn trong giấy vệ sinh từ trong người ra đưa cho P, P đưa số tiền 1.700.000 đồng cho T1, T1 nhận tiền đi đâu không rõ. P mang ma túy về nhà tại Phòng trọ số A, nhà số A, Ấp B, xã B, huyện B phân chia thành từng gói nhỏ để bán cho người khác, với giá từ 150.000 đồng đến 200.000 đồng/gói để kiếm tiền lời. P lấy Heroine ra sử dụng một phần, số còn lại P cất giữ tại nhà để sử dụng cho bản thân. Đến ngày 13/5/2024, P mang số ma túy đá vừa phân chia được nêu trên đi đến khu vực bến xe Q tìm người mua ma túy đá để bán. P đã bán được 05 gói ma túy đá lần lượt cho 03 người thanh niên (không rõ lai lịch) được tổng số tiền khoảng 1.000.000 đồng, số tiền này P tiêu xài cá nhân hết. Đến khoảng 19 giờ 20 phút ngày 13/5/2024, P đang điều khiển xe mô tô biển số 59U2-545.88 mang theo ma túy đá còn lại cất giữ trong người đi tìm người mua để bán thì bị kiểm tra, thu giữ như trên.

- Đối với khẩu súng và 04 viên đạn do Công an P2, Quận H phát hiện tại trước số

948 Tạ Quang Bửu P1 khai nhận: Ngày 20/4/2024, do có nhu cầu mua súng để phòng thân nên tìm nơi bán trên mạng xã hội thì P1 liên hệ số điện thoại 0828888961 có Zalo tên “H3 Quý Hơn Vàng” đang bán khẩu súng này với giá 15.000.000 đồng, kèm theo số điện thoại 0828888961 và số tài khoản 0858888601 Ngân hàng Thương mại cổ phần Q2 (M) mang tên TRIEU VAN UT để mua. Sau đó, có người giao súng đến cho P1 tại trước nhà số A Ấp A, xã B, huyện B (do nhà P1 khó tìm nên P1 lấy địa chỉ nhà hàng xóm để nhận hàng). Sau khi nhận súng, P1 đã nhờ chị ruột của P1 tên Nguyễn Thị Kim Y chuyển khoản số tiền 15.000.000 đồng vào tài khoản MB số 0858888601, mang tên TRIEU VAN UT. Khi chuyển tiền, chị Y sử dụng tài khoản Momo mang tên Nguyen Thi Kim Y1 số điện thoại 0797731624 để chuyển và không biết việc P1 mua súng.

- Đối với khẩu súng và số đạn phát hiện khi khám xét tại nơi ở của P1, P1 khai nhận:

Vào khoảng đầu tháng 4/2024, P1 mua cây súng và số đạn trên trang mạng xã hội, với giá khoảng 400.000 đồng về cất giữ tại nhà, do đã lâu nên P1 không nhớ mua ở trang nào. Khi mua hàng, P1 nhận hàng và trả tiền trực tiếp cho nhân viên giao hàng (không rõ lai lịch).

Đồng thời, anh Nguyễn Văn L khai là chủ nhà trọ địa chỉ A34/17 CK9, Ấp B, xã B,

huyện B, nhưng không trực tiếp quản lý, mà thuê chị Cam Thị Vân H trực tiếp quản lý nhà trọ. Anh L và chị H không biết Nguyễn Văn Thiên P có hành vi mua bán và tàng trữ trái phép chất ma túy tại Phòng trọ số 19 của nhà trọ trên.

Tại Cáo trạng số 78/CT-VKS-Q8 ngày 28/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Quận

8, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo như sau:

Bị cáo Nguyễn Văn Thiên P bị truy tố, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo

quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm

2017);

Ngoài ra cáo trạng còn xác định:

Đối với người đàn ông tên T1 đã bán ma túy cho bị can P và những người mua ma

túy của bị can P, hiện không xác định được nhân thân, lai lịch và địa chỉ cụ thể nên Cơ

quan điều tra tiếp tục truy tìm, khi nào tìm được sẽ xử lý sau.

Đối với bị can Nguyễn Văn Thiên P có hành vi tàng trữ 0,0713 gam ma túy loại

Heroine, chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma

túy”, quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự nên ngày 05/12/2024, Công an Q1 ra

Quyết định số 12045/QĐ-XPHC xử phạt hành chính đối với P số tiền 3.500.000 đồng về

hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm a, khoản 2 Điều 23 Nghị định

144/2021/NĐ-CP.

Đồng thời, xử phạt hành chính đối với P số tiền 7.500.000 đồng về hành vi “Tàng

trữ trái phép đồ chơi nguy hiểm bị cấm” theo điểm đ, khoản 3 Điều 11 Nghị định

144/2021/NĐ-CP.

Đối với hành vi tàng trữ trái phép công cụ hỗ trợ 01 khẩu súng dài khoảng 15 cm

của bị can Nguyễn Văn Thiên P. Qua xác minh, P chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về

một trong các hành vi quy định tại Điều 306 Bộ luật Hình sự hoặc bị kết án về Điều 306

Bộ luật Hình sự nên chưa đủ căn cứ để xử lý hình sự P về tội “Chế tạo, tàng trữ, vận chuyển,

sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao hoặc

công cụ hỗ trợ”. Do đó, ngày 28/02/2025, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận H2 ra Quyết

định xử phạt vi phạm hành chính số 79/QĐ-XPHC đối với P về hành vi “Tàng trữ trái phép

công cụ hỗ trợ” theo điểm a, khoản 4 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP với số tiền

15.000.000 đồng, bị can chưa đóng số tiền phạt trên.

Đối với chị Nguyễn Thị Kim Y khi chuyển tiền cho bị can P mua súng thì chị Y

không biết nên Cơ quan điều tra không xử lý hình sự là có cơ sở.

Đối với những người đã bán súng là đồ chơi nguy hiểm hình dạng súng ổ quay,

công cụ hỗ trợ thuộc loại súng bắn đạn cao su cho bị can P, hiện không xác định được nhân

thân, lai lịch cụ thể nên Cơ quan điều tra tiếp tục truy xét, khi nào tìm được sẽ xử lý sau.

Đối với anh Nguyễn Văn L và chị Cam Thị Vân H không biết bị can P mua bán trái

phép ma túy tại nhà trọ trên nên Cơ quan điều tra không xử lý hình sự là có cơ sở.

Tại phiên tòa hôm nay:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến: sau

khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ của bị

cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quan

điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo:

Áp dụng điểm i khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản

1 Điều 52, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt Nguyễn Văn Thiên P từ 10 năm tù đến 11 năm tù, về tội “Mua bán trái

phép chất ma túy”. Phạt bổ sung bị cáo số tiền là 20.000.000 đồng.

Bị cáo trình bày: Bị cáo thừa nhận hành vi như cáo trạng truy tố, bị cáo rất hối hận

về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng.

Quá trình tranh luận, đối đáp đại diện Viện kiểm sát cũng như bị cáo giữ nguyên

quan điểm như đã nêu, không phát sinh tình tiết nào mới.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh

tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành

tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về căn cứ áp dụng pháp luật: Bộ luật Hình sự áp dụng trong vụ án này là Bộ

luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) với nguyên tắc xử lý nghiêm trị đối với người chủ mưu, cầm đầu. Khoan hồng với người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác người đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra theo quy định tại Điều 3 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi

phạm tội như cáo trạng đã truy tố, căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của những người liên quan, kết luận giám định cùng với các tài liệu, chứng cứ khác mà cơ quan điều tra đã thu thập được trong quá trình tố tụng. Trên cơ sở xem xét đánh giá công khai các chứng cứ một cách đầy đủ và toàn diện nhất, Hội đồng xét xử nhận định về nội dung vụ án như sau:

Vào lúc 19 giờ 20 phút ngày 13/5/2024, tại trước số I T, Phường E, Quận H, bị cáo

Nguyễn Văn Thiên P đã có hành vi mang ma túy trong người để nhằm mục đích kiếm các con nghiện để bán kiếm lời thì bị bắt quả tang. Theo kết quả giám định xác định được số lượng ma túy thu được của bị cáo là 7,0723 gam ma túy loại Methamphetamine

Bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo hoàn

toàn nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng chỉ vì muốn có tiền tiêu xài và thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của mình mà bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

Đối với việc bị cáo P khai đã bán được 05 gói ma túy đá lần lượt cho 03 người thanh

niên (không rõ lai lịch) được tổng số tiền khoảng 1.000.000 đồng, bị cáo đã tiêu xài hết, Hội đồng xét xử xét ngoài lời khai của bị cáo thì không còn chứng cứ nào khác thể hiện việc này nên việc các cơ quan tiến hành tố tụng không xử lý bị cáo đối với hành vi này là có cơ sở.

Với các tình tiết của vụ án đã được chứng minh tại phiên tòa Hội đồng xét xử có đủ

cơ sở xác định hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Thiên P đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i, khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố là đúng người, đúng tội, không oan sai.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến chính

sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội. Do đó, cần xử lý nghiêm trước pháp luật mới có tác dụng răn đe, giáo

dục riêng và phòng ngừa chung. Bên cạnh đó Hội đồng xét xử xét cần áp dụng thêm hình

phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên

tòa.

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo có tình tiết tăng nặng là tái phạm

theo điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi lượng hình Hội đồng xét xử có xem

xét bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải để áp dụng điểm s khoản 1

Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) giảm nhẹ một phần trách

nhiệm hình sự đối với các bị cáo.

Nhận định trên cũng là nhận định của Hội đồng xét xử để chấp nhận quan điểm luận

tội cũng như mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát trình bày tại phiên tòa.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

Đối với các vật chứng thu giữ trong vụ án gồm các súng, đạn được giám định là đồ

chơi nguy hiểm, ma túy thu được của bị cáo xét cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với các súng, đạn được xác định là công cụ hỗ trợ xét xét cần tịch thu giao cho

cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý theo quy định.

Đối với các điện thoại thu của bị cáo, xét bị cáo dùng vào việc phạm tội nên xét cần

tịch thu sung vào ngân sách nhà nước

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm i khoản 2 khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, và điểm h, khoản

1 Điều 52, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt Nguyễn Văn Thiên P 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Mua bán

trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 13/5/2024.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn Thiên P nộp phạt bổ sung số tiền là 20.000.000 (hai mươi

triệu) đồng.

Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

+ Tịch thu tiêu hủy đối với:

01 (một) gói được niêm phong số 5959(1818)/24(1) bên ngoài có chữ ký giám định

viên Trần Đình H1, điều tra viên Võ Thanh L1 và Nguyễn Văn Thiên P, bên trong số ma

túy còn lại sau khi giám định;

01 (một) gói được niêm phong số 5959(1818)/24(2) bên ngoài có chữ ký giám định

viên Trần Đình H1, điều tra viên Võ Thanh L1 và Nguyễn Văn Thiên P, bên trong số ma

túy còn lại sau khi giám định;

01 (một) gói được niêm phong số 1829/24Q8 bên ngoài có chữ ký giám định viên

Phan Tấn Q, cán bộ điều tra Nguyễn Huy L2 và Nguyễn Văn Thiên P, bên trong số ma túy

còn lại sau khi giám định;

01 (một) khẩu súng dạng ổ quay, dài khoảng 20cm, báng súng màu gỗ, tại vị trí

nòng súng có chữ SMITH & WESSON, thân súng có chữ MADE IN CHINA;

01 (một) hộp giấy màu trắng, bên trong có: 33 (ba mươi ba) vỏ đạn nhựa màu xanh,

05 (năm) viên đạn nhựa màu xanh có đầu đạn màu cam, 27 (hai mươi bảy) đầu đạn bằng nhựa màu cam, 16 (mười sáu) vỏ đạn màu kim loại không có đầu đạn, 03 (ba) viên đạn cao su màu đen có đầu đạn màu cam, 01 (một) vỏ đạn băng xốp màu đen không có đầu đạn;

01 (một) hộp nhựa màu hồng và 01 túi giấy

01 (một) chai nhựa và 01 túi vải màu đỏ.

+ Tịch thu giao phòng cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội công an Thành

phố H quản lý đối với:

01 (một) khẩu súng dài khoảng 15 cm, bằng kim loại màu trắng, báng súng mâu

nâu, hiệu ZORAKI MOD 914-TD AUTO, số A31ZR3DTS01-2400460;

03 (ba) viên đạn cao su cỡ (9x22)mm, ký hiệu YAS GLD PAK 9mm, 01 vỏ đạn cao

su cỡ (9x22)mm, ký hiệu YAS GLD PAK 9mm;

+ Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước đối với:

01 (một) điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen số IMEI 1: 358573082835723,

IMEI 2: 358573086405721 gắn sim số 0909765146

01 (một) điện thoại di động hiệu REDMI màu xanh, không rõ số IMEI, gắn sim số

0342528287;

01 (một) điện thoại di động hiệu VIVO màu xanh, không rõ số IMEI, gắn sim số

0327998183;

(theo biên bản giao nhận tang tài vật ngày 19/5/2025 của cục thi hành án dân sự

Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh)

Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày 20/06/2025. đương

sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ