vanban.org

Bản án 131/2025/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Nai Tuyên án 13/03/2025 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 13/03/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Công HPhan N10 T1Nguyễn Tiến Tgiữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 606/2023/HS-ST ngày 13 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

Xử phạt bị cáo Trần Công H20 (Một) năm tù, nhưng được trừ thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/10/2022 đến ngày 18/01/2023, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án. Xử phạt bị cáo Phan Nhân T15 (C) tháng tù, nhưng được trừ thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/10/2022 đế… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "BC: Trần Công H + Đp - phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (điều 201 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Công HPhan N10 T1Nguyễn Tiến Tgiữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 606/2023/HS-ST ngày 13 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
  • Căn cứ chính? Điều 201 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 131/2025/HS-PT
Ngày 13-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Phạm Thành Dương.

Các Thẩm phán: Ông Vũ Hồng Luyến.

Ông Trần Vĩnh Yên.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Tuấn Minh - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Kiên - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 426/2024/TLPT-HS ngày 06 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo Trần Công HNguyễn T TPhan Nhân T1do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 606/2023/HS-ST ngày 13 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

Các bị cáo có kháng cáo:

1. Trần Công H, sinh năm 2000, tại tỉnh Yên Bái.

Nơi ĐKHKTT: Thôn B, xã T, thành phố Y, tỉnh Yên BáiNơi cư trú (trước khi bị bắt): Hẻm E, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng NaiNghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Họ tên cha: Trần Văn H1(sinh năm 1966); Họ tên mẹ: Trần Thị H2(sinh năm 1971). Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ 02 trong gia đình. Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không. Hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 1211/LCĐKNCT. Bị cáo tại ngoại (Bị cáo có đơn xin xét xử vắng mặt)

2. Phan Nhân T1, sinh năm 1997, tại tỉnh Lào Cai.

Nơi ĐKHKTT: Tổ B, phường L, thành phố L, tỉnh Lào CaiNơi cư trú (trước khi bị bắt): Hẻm E, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng NaiNghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Họ tên cha: Phan Tất T2(sinh năm 1964); Họ tên mẹ: Vũ Thị L(sinh năm 1973). Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ 02 trong gia đình. Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không. Hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 1212/LCĐKNCT. Bị cáo tại ngoại (Bị cáo có đơn xin xét xử vắng mặt)

3. Nguyễn Tiến T3, sinh năm 2000, tại tỉnh Yên Bái.

Nơi ĐKHKTT: Ngõ A, tổ B, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên BáiNơi cư trú (trước khi bị bắt): Hẻm E, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng NaiNghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Họ tên cha: Nguyễn Tiến D(sinh năm 1968); Họ tên mẹ: Lê Thị H3(sinh năm 1975 – đã chết). Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình. Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không. Hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 1213/LCĐKNCT. Bị cáo tại ngoại (Bị cáo có đơn xin xét xử vắng mặt)

Ngoài ra trong vụ án còn có một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác nhưng không kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 6/2022, Trần Công H4 đối tượng Vũ Ngọc A(tên thường gọi là Linh B đến thành phố B thực hiện việc cho vay tiền với lãi suất cao để thu lợi bất chính. Mỗi tháng Ngọc A1 lương cho H4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) và thoả thuận mỗi trường hợp mà H13 vay thì H4 hưởng 50% tiền phí thu của người vay. Để tìm người vay tiền, H5 số điện thoại 0963.636.581 lên các tờ rơi với nội dung “cho vay tiền góp” rồi đem đi rải tại các khu dân cư quanh khu vực thành phố B đăng lên Facebook để tìm kiếm người vay. Khi những người có nhu cầu vay tiền liên lạc với H6 số điện thoại của H7 trên tờ rơi thì Hsẽ xác minh thông tin địa chỉ, tài sản .... của người vay rồi thông báo lại để Ngọc A2 định việc cho vay. Khi Ngọc A3 ý cho vay tiền thì H8 thoả thuận với người vay về số tiền thực nhận, tiền phí, số tiền trả góp hàng ngày và số ngày trả góp với mức lãi suất từ 14,35%/tháng đến 69,44%/tháng. Khi cho vay thì Hthu tiền phí là 05% trên tổng số tiền vay (nhưng cũng tùy từng người vay mà có một số trường hợp Huấn thu tiền phí thấp hơn hoặc cao hơn hoặc không thu tiền phí) và yêu cầu người vay đóng trước tiền trả góp trước 02 ngày. Nếu người vay chưa trả hết tiền của lần vay trước mà muốn vay tiếp thì khi cho vay Hsẽ trừ luôn số tiền người vay chưa trả của lần vay trước vào số tiền cho vay của lần vay mới nên người vay chỉ nhận được số tiền còn lại và coi như lần vay trước đã trả xong. Ngoài ra, tùy từng trường hợp cụ thể theo thỏa thuận giữa Hvới người vay thì tiền phí, lãi suất, thời hạn trả góp và số tiền trả góp hàng ngày có thể thay đổi, không cố định.

Khoảng đầu tháng 8/2022 Vũ Ngọc A4 thêm Phan Nhân T1cùng thực hiện việc cho vay với H9 giữa tháng 10/2022 thì Vũ Ngọc A5 tục thuê Nguyễn Tiến T4 gia việc cho vay với Hvà T1

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B thu lợi bất chính của 21 người vay tiền trong 50 lần cho vay, cụ thể như sau:

1. Khoảng giữa tháng 9/2022 (không rõ ngày), H9 T1cho bà Huỳnh Thị M H4ngụ tại tổ C khu phố L, phường T, thành phố B lần 01 số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), bà H4phải trả tiền phí 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) và đóng tiền trả góp trước 02 ngày là 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) nên số tiền bà H4được nhận là 4.000.000đ (Bốn triệu đồng). Tổng số tiền bà H4phải trả là 6.250.000 đồng (Sáu triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) và trả góp mỗi ngày 250.000đ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) trong 25 ngày tương đương với lãi suất 33,33%/tháng. Tuy nhiên, sau khi trả góp được 17 ngày thì bà H4đã vay lần thứ 02 nên T1đã trừ hết số tiền bà H4còn thiếu của lần vay này nên lãi suất thực tế là 49,02%/tháng. Số tiền lãi hợp pháp tương ứng với mức 1,67%/tháng mà Hvà đồng phạm được hưởng trong 17 ngày là 42.585 đồng (Bốn mươi hai nghìn năm trăm tám mươi lăm đồng), số tiền thu lợi bất chính là 1.707.415 đồng (Một triệu bảy trăm lẻ bảy nghìn bốn trăm mười lăm đồng).

- Khoảng đầu tháng 10/2022 (không rõ ngày), H9 T1cho bà H4vay lần 02 số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), bà H4phải trả tiền phí 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng), đóng tiền góp trước của 02 ngày là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) và trả số tiền còn thiếu của lần vay 01 nên số tiền bà H4được nhận là 6.500.000 đồng (Sáu triệu năm trăm nghìn đồng). Tổng số tiền bà H4phải trả là 12.500.000 đồng (Mười hai triệu năm trăm nghìn đồng) và trả góp mỗi ngày 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) trong 25 ngày tương đương với lãi suất 31,58%/tháng. Tuy nhiên, sau khi trả góp được 21 ngày thì bà H4đã vay lần thứ 03 và T1đã trừ hết số tiền bà H4còn thiếu của lần vay này nên lãi suất thực tế là 37,59%/tháng. Số tiền lãi hợp pháp tương ứng với mức 1,67%/tháng mà Hvà đồng phạm được hưởng trong 21 ngày là 111.055 đồng (Một trăm mười một nghìn không trăm năm mươi lăm đồng), số tiền thu lợi bất chính là 2.888.945 đồng (Hai triệu tám trăm tám mươi tám nghìn chín trăm bốn mươi lăm đồng).

- Khoảng cuối tháng 10/2022 (không rõ ngày), H9 T1cho bà H4vay lần 03 số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) với tiền phí, lãi suất và cách thức trả góp như lần 02. Do phải trả tiền còn thiếu của lần vay 02 nên số tiền bà H4được nhận là 6.500.000 đồng (Sáu triệu năm trăm nghìn đồng). Tuy nhiên, sau khi trả góp được 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) trong 04 ngày thì T1đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bbắt giữ nên bà H4vẫn còn nợ T18.000.000 đồng (Tám triệu đồng) tiền gốc. Số tiền thu lợi bất chính Hvà đồng phạm nhằm đạt được là 2.867.792 đồng (Hai triệu tám trăm sáu mươi bảy nghìn bảy trăm chín mươi hai đồng) nhưng mới chỉ thu lợi bất chính được 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) tiền phí.

2. Khoảng giữa tháng 7/2022 (không rõ ngày), Hcho bà Nguyễn Thị Thu S tại số B, khu phố B, phường T, thành phố B lần 01 số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), bà S1 trả tiền phí 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) và đóng tiền trả góp trước 02 ngày là 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) nên số tiền bà S2 nhận là 4.250.000 đồng (Bốn triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng). Tổng số tiền bà S1 trả là 6.250.000 đồng (Sáu triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) và trả góp mỗi ngày 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) trong 25 ngày tương đương với lãi suất 31,58%/tháng. Tuy nhiên, sau khi trả góp được 17 ngày thì bà S3 vay lần thứ 02 nên Hđã trừ hết số tiền bà S4 thiếu của lần vay này nên lãi suất thực tế là 46,44%/tháng. Số tiền lãi hợp pháp tương ứng với mức 1,67%/tháng mà Hvà đồng phạm được hưởng trong 17 ngày là 44.950 đồng (Bốn mươi bốn nghìn chín trăm năm mươi đồng), số tiền thu lợi bất chính là 1.455.050 đồng (Một triệu bốn trăm năm mươi lăm nghìn không trăm năm mươi đồng).

- Khoảng đầu tháng 8/2022 (không rõ ngày), Hcho bà S5 lần 02 số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) với tiền phí, lãi suất và cách thức trả góp như lần 01. Do phải trả tiền còn thiếu của lần vay 01 nên số tiền bà S2 nhận là 2.250.000 đồng (Hai triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng). Khoản vay này bà S3 trả xong trong vòng 25 ngày. Số tiền lãi hợp pháp tương ứng với mức 1,67%/tháng mà Hvà đồng phạm được hưởng trong 25 ngày là 66.104 đồng (Sáu mươi sáu nghìn một trăm lẻ bốn đồng), số tiền thu lợi bất chính là 1.433.896 đồng (Một triệu bốn trăm ba mươi ba nghìn tám trăm chín mươi sáu đồng).

- Ngày 15/8/2022, H13 bà S5 lần 03 số tiền 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng), bà S phải trả tiền phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) và đóng tiền trả góp trước 02 ngày là 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) nên số tiền bà S2 nhận là 6.100.000 đồng (Sáu triệu một trăm nghìn đồng). Tổng số tiền bà S1 trả là 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng) và trả góp mỗi ngày 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) trong 30 ngày tương đương với lãi suất 29,85%/tháng. Tuy nhiên, sau khi trả góp được 25 ngày thì bà S3 vay lần thứ 04 nên Hđã trừ hết số tiền bà S4 thiếu của lần vay này nên lãi suất thực tế là 35,82%/tháng. Số tiền lãi hợp pháp tương ứng với mức 1,67%/tháng mà Hvà đồng phạm được hưởng trong 25 ngày là 93.241 đồng (Chín mươi ba nghìn hai trăm bốn mươi mốt đồng), số tiền thu lợi bất chính là 2.206.759 đồng (Hai triệu hai trăm lẻ sáu nghìn bảy trăm năm mươi chín đồng).

- Khoảng đầu tháng 9/2022 (không rõ ngày), Hcho bà S5 lần 04 số tiền 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) với tiền phí, lãi suất và cách thức trả góp như lần 03. Do phải trả tiền còn thiếu của lần vay 03 nên số tiền bà S2 nhận là 4.600.000 đồng (Bốn triệu sáu trăm nghìn đồng). Khoản vay này bà S7 góp được 6.600.000đ (Sáu triệu sáu trăm nghìn đồng) trong 22 ngày thì không trả được nữa nên còn nợ H400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng) tiền gốc. Số tiền thu lợi bất chính Hvà đồng phạm nhằm đạt được là 2.188.110 đồng (Hai triệu một trăm tám mươi tám nghìn một trăm mười đồng), nhưng H10 chỉ thu lợi bất chính được 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền phí.

3. Khoảng đầu tháng 6/2022 (không rõ ngày), Hcho ông Nguyễn Cao H11 tại số A, khu phố A, phường T, thành phố B lần 01 số tiền 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng), ông H5phải trả tiền phí 700.000 đồng (Bảy trăm nghìn đồng) và đóng tiền trả góp trước 02 ngày là 700.000 đồng (Bảy trăm nghìn đồng) nên số tiền ông H5được nhận là 5.600.000 đồng (Năm triệu sáu trăm nghìn đồng). Tổng số tiền ông H5phải trả là 8.400.000 đồng (Tám triệu bốn trăm nghìn đồng) và trả góp mỗi ngày 350.000 đồng (Ba trăm năm mươi nghìn đồng) trong 24 ngày tương đương với lãi suất 27,78%/tháng. Khoản vay này ông H5đã thanh toán xong. Số tiền lãi hợp pháp tương ứng với mức 1,67%/tháng mà Hvà đồng phạm được hưởng trong 24 ngày là 84.168 đồng (Tám mươi bốn nghìn một trăm sáu mươi tám đồng), số tiền thu lợi bất chính là 2.015.832 đồng (Hai triệu không trăm mười lăm nghìn tám trăm ba mươi hai đồng).

- Khoảng giữa tháng 6/2022 (không rõ ngày), Hcho ông H12 lần 02 số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng), ông H5phải trả tiền phí 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) và đóng tiền trả góp trước 02 ngày là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) nên số tiền ông H5được nhận là 16.000.000 đồng (Mười sáu triệu đồng). Tổng số tiền ông H5phải trả là 24.000.000 đồng (Hai mươi bốn triệu đồng) và trả góp mỗi ngày 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) trong 24 ngày tương đương với lãi suất 27,78%/tháng. Tuy nhiên, sau khi trả góp được 14 ngày thì ông H5đã vay lần thứ 03 nên Hđã trừ hết số tiền ông H5còn thiếu của lần vay này nên lãi suất thực tế là 47,62%/tháng. Số tiền lãi hợp pháp tương ứng với mức 1,67%/tháng mà Hvà đồng phạm được hưởng trong 14 ngày là 140.280 đồng (Một trăm bốn mươi nghìn hai trăm tám mươi đồng), số tiền thu lợi bất chính là 5.859.720 đồng (Năm triệu tám trăm năm mươi chín nghìn bảy trăm hai mươi đồng).

- Khoảng cuối tháng 6/2022 (không rõ ngày), Hcho ông H12 lần 03 số tiền 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng), ông H5phải trả tiền phí 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng), đóng tiền trả góp trước 02 ngày là 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) nên số tiền ông H5nhận được là 24.000.000 đồng (Hai mươi bốn triệu đồng). Tổng số tiền ông H5phải trả là 48.000.000 đồng (Bốn mươi tám triệu đồng) và trả góp mỗi ngày 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) trong 24 ngày tương đương với lãi suất 26,32%/tháng. Khoản vay này ông H5đã trả xong trong 24 ngày. Số tiền lãi hợp pháp tương ứng với mức 1,67%/tháng mà Hvà đồng phạm được hưởng trong 24 ngày là 507.860 đồng (Năm trăm lẻ bảy nghìn tám trăm sáu mươi đồng), số tiền thu lợi bất chính là 9.492.320 đồng (Chín triệu bốn trăm chín mươi hai nghìn ba trăm hai mươi đồng).

- Khoảng tháng 7/2022 (không rõ ngày), Hcho ông H12 lần 04 số tiền 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng) với tiền phí, lãi suất và cách thức trả góp như lần 03 nên số tiền ông H5được nhận là 34.000.000 đồng (Ba mươi bốn triệu đồng). Khoản vay này ông H5đã trả xong trong 24 ngày. Số tiền lãi hợp pháp tương ứng với mức 1,67%/tháng mà Hvà đồng phạm được hưởng trong 24 ngày là 507.860 đồng (Năm trăm lẻ bảy nghìn tám trăm sáu mươi đồng), số tiền thu lợi bất chính là 9.492.320 đồng (Chín triệu bốn trăm chín mươi hai nghìn ba trăm hai mươi đồng).

- Khoảng tháng 8/2022 (không rõ ngày), Hcho ông H5vay lần 05 số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), ông H5phải trả tiền phí 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) và đóng tiền trả góp trước 02 ngày là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) nên số tiền ông H5được nhận là 42.500.000 đồng (Bốn mươi hai triệu năm trăm nghìn đồng). Tổng số tiền ông H5phải trả là 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng) và trả góp mỗi ngày 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) trong 24 ngày tương đương với lãi suất 26,32%/tháng. Tuy nhiên, sau khi trả góp được 13 ngày thì ông H5không trả được nữa nên ông H5còn nợ H17.500.000 đồng (Mười bảy triệu năm trăm nghìn đồng) tiền gốc. Số tiền thu lợi bất chính Hvà đồng phạm nhằm đạt được là 11.865.400 đồng (Mười một triệu tám trăm sáu mươi lăm nghìn bốn trăm đồng) nhưng H10 chỉ thu lợi bất chính được 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) tiền phí.

4. Khoảng tháng 9/2022, H13 ông Huỳnh N T3ngụ tại số E, Tổ B, khu phố C, phường B, thành phố B lần 01 số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), ông T3phải trả tiền phí 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) và đóng tiền trả góp trước 02 ngày là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) nên số tiền ông T3được nhận là 8.500.000 đồng (Tám triệu năm trăm nghìn đồng). Tổng số tiền ông T3phải trả là 12.500.000 đồng (Mười hai triệu năm trăm nghìn đồng) và trả góp mỗi ngày 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) trong 25 ngày tương đương với lãi suất 31,58%/tháng. Khoản vay này ông T3đã trả xong. Số tiền lãi hợp pháp tương ứng với mức 1,67%/tháng Huấn và đồng phạm được hưởng trong 25 ngày là 132.208 đồng (Một trăm ba mươi hai nghìn hai trăm lẻ tám đồng), số tiền thu lợi bất chính là 2.867.792 đồng (Hai triệu tám trăm sáu mươi bảy nghìn bảy trăm chín mươi hai đồng).

- Khoảng tháng 10/2022 (không rõ ngày), H cho ông T3vay lần 02 số tiền 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng), ông T3phải trả tiền phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) và đóng tiền trả góp trước 02 ngày là 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) nên số tiền ông T3được nhận là 5.100.000 đồng (Năm triệu một trăm nghìn đồng). Tổng số tiền ông T3phải trả là 7.200.000 đồng (Bảy triệu hai trăm nghìn đồng) và trả góp mỗi ngày 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) trong 24 ngày tương đương với lãi suất 26,32%/tháng. Sau khi trả góp được 18 ngày thì ông T3không trả được nữa nên ông T3còn nợ H1.600.000 đồng (Một triệu sáu trăm nghìn đồng) tiền gốc. Số tiền thu lợi bất chính Hvà đồng phạm nhằm đạt được là 1.423.848 đồng (Một triệu bốn trăm hai mươi ba nghìn tám trăm bốn mươi tám đồng) nhưng H10 chỉ thu lợi bất chính được 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền phí.

5. Khoảng giữa tháng 8/2022 (không rõ ngày), Hcho bà Mai Thị T5 T4ngụ tại tổ B, ấp C, phường H, thành phố B lần 01 số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), bà T4phải trả tiền phí 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) và đóng tiền trả góp trước 02 ngày là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) nên số tiền bà T4được nhận là 8.500.000 đồng (Tám triệu năm trăm nghìn đồng). Tổng số tiền bà T4phải trả là 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng) và trả góp mỗi ngày 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) trong 24 ngày tương đương với lãi suất 26,32%/tháng. Tuy nhiên, sau khi trả góp được 18 ngày thì bà T4đã vay lần thứ 02 và Hđã trừ hết số tiền bà T4còn thiếu của lần vay này nên lãi suất thực tế là 35,09%/tháng. Số tiền lãi hợp pháp tương ứng với mức 1,67%/tháng mà H9 đồng phạm được hưởng trong 18 ngày là 95.190 đồng (Chín mươi lăm nghìn một trăm chín mươi đồng), số tiền thu lợi bất chính là 2.404.810 đồng (Hai triệu bốn trăm lẻ bốn nghìn tám trăm mười đồng).

- Khoảng cuối tháng 8/2022 (không rõ ngày), Hcho bà T4vay lần 02 số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) với lãi suất và cách thức trả góp như lần 01 nhưng không lấy tiền phí nên lãi suất là 25%/tháng. Do phải trả tiền còn thiếu của lần vay 01 nên số tiền bà T4được nhận là 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) và khoản vay này bà T4đã trả xong trong vòng 24 ngày. Số tiền lãi hợp pháp tương ứng với mức 1,67%/tháng mà Hvà đồng phạm được hưởng trong 24 ngày là 133.600 đồng (Một trăm ba mươi ba nghìn sáu trăm đồng), số tiền thu lợi bất chính là 1.866.400 đồng (Một triệu tám trăm sáu mươi sáu nghìn bốn trăm đồng).

- Ngày 21/10/2022, H9 T1cho bà T4vay lần 03 số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) với tiền phí, lãi suất và cách thức trả góp như lần 01. Khoản vay này bà T4đã trả góp được 09 ngày thì Hvà đồng phạm bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bbắt giữ nên bà T4còn nợ Hsố tiền 5.500.000 đồng (Năm triệu năm trăm nghìn đồng) tiền gốc. Số tiền thu lợi bất chính Hvà đồng phạm nhằm đạt được là 2.373.080 đồng (Hai triệu ba trăm bảy mươi ba nghìn không trăm tám mươi đồng) nhưng H10 chỉ thu lợi bất chính được 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) tiền phí.

6. Ngày 13/9/2022, H13 bà Phạm Thị N1 tại tổ B, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dươngvay lần 01 số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng), bà N2 đóng tiền trả góp trước 02 ngày là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng không phải đóng tiền phí nên số tiền bà N3 nhận là 2.700.000 đồng (Hai triệu bảy trăm nghìn đồng). Tổng số tiền bà N2 trả là 3.600.000 đồng (Ba triệu sáu trăm nghìn đồng) và trả góp mỗi ngày 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) trong 24 ngày tương đương với lãi suất 25%/tháng. Khoản vay này bà N4 trả xong. Số tiền lãi hợp pháp tương ứng với mức 1,67%/tháng mà Hvà đồng phạm được hưởng trong 24 ngày là 40.080 đồng (Bốn mươi nghìn không trăm tám mươi đồng), số tiền thu lợi bất chính là 559.920 đồng (Năm trăm năm mươi chín nghìn chín trăm hai mươi đồng).

- Khoảng tháng 10/2022 (không rõ ngày), Hcho bà N5 lần 02 số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), bà N2 trả tiền phí 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) và đóng tiền trả góp trước 02 ngày là 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) nên số tiền bà N3 nhận là 4.250.000 đồng (Bốn triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng). Tổng số tiền bà N2 trả là 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) và trả góp mỗi ngày 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) trong 24 ngày tương đương với lãi suất 31,58%/tháng. Tuy nhiên, bà N6 trả góp được 18 ngày thì Hvà đồng phạm đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bbắt giữ nên bà N7 nợ H500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) tiền gốc. Số tiền thu lợi bất chính Hvà đồng phạm nhằm đạt được là 1.197.117 đồng (Một triệu một trăm chín mươi bảy nghìn một trăm mười bảy đồng) nhưng H10 chỉ thu lợi bất chính được 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) tiền phí.

7. Khoảng tháng 10/2022 (không rõ ngày), Trần Công H13 bà Đặng T6 H6ngụ tại số B, tổ B, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Naivay số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), bà H6phải trả tiền phí 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) và đóng tiền trả góp trước 02 ngày là 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng) nên số tiền bà H6được nhận là 4.4000.000 đồng (Bốn triệu bốn trăm nghìn đồng). Tổng số tiền bà H6phải trả là 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) và trả góp mỗi ngày 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) trong 30 ngày tương đương với lãi suất 20,83%/tháng. Tuy nhiên sau khi bà H6trả góp được 17 ngày thì Hbị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bbắt giữ nên bà H6vẫn còn nợ H 1.600.000 đồng (Một triệu sáu trăm nghìn đồng) tiền gốc. Số tiền thu lợi bất chính Hvà đồng phạm nhằm đạt được là 1.119.840 đồng (Một triệu một trăm mười chín nghìn tám trăm bốn mươi đồng) nhưng H10 chỉ thu lợi bất chính được 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền phí.

8. Khoảng đầu tháng 10/2022 (không rõ ngày), Hcho bà Ngô Kim T7 tại số H, khu phố A, phường A, thành phố B lần 01 số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), bà T5không phải trả tiền phí và chỉ đóng tiền trả góp trước 01 ngày là 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) nên số tiền bà T5được nhận là 4.750.000 đồng (Bốn triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng). Tổng số tiền bà T5phải trả là 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) và trả góp mỗi ngày 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) trong 24 ngày tương đương với lãi suất 25%/tháng. Tuy nhiên, sau khi trả góp được 20 ngày thì bà T5đã vay lần thứ 02 và Hđã trừ hết số tiền bà T5còn thiếu của lần vay này nên lãi suất thực tế là 30%/tháng. Số tiền lãi hợp pháp tương ứng với mức 1,67%/tháng mà Hvà đồng phạm được hưởng trong 20 ngày là 55.666 đồng (Năm mươi lăm nghìn sáu trăm sáu mươi sáu đồng), số tiền thu lợi bất chính là 944.334 đồng (Chín trăm trăm bốn mươi bốn nghìn ba trăm ba mươi bốn đồng).

- Khoảng giữa tháng 10/2022 (không rõ ngày), Hcho bà T5vay lần 02 số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) với tiền phí, lãi suất và cách thức trả góp như lần 01. Do phải trả tiền còn thiếu của lần vay 01 và đóng tiền trả góp trước 02 ngày là 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) nên số tiền bà T5được nhận là 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm nghìn đồng). Khoản vay này bà T5trả được 14 ngày thì H14 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bbắt giữ nên bà T5vẫn còn nợ H1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) tiền gốc. Số tiền thu lợi bất chính Hvà đồng phạm nhằm đạt được là 933.200 đồng (Chín trăm ba mươi ba nghìn hai trăm đồng) nhưng H15 thu lợi được.

9. Khoảng cuối tháng 9/2022 (không rõ ngày), Hcho bà Huỳnh Thị N8 tại số A, khu phố T, phường P, thành phố B lần 01 số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), bà N1phải trả tiền phí 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) và đóng tiền trả góp trước 02 ngày là 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) nên số tiền bà N1được nhận là 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng). Tổng số tiền bà N1phải trả là 6.250.000 đồng (Sáu triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) và trả góp mỗi ngày 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) trong 25 ngày tương đương với lãi suất 33,33%/tháng. Bà N2đã trả xong khoản vay trên. Số tiền lãi hợp pháp tương ứng với mức 1,67%/tháng mà Hvà đồng phạm được hưởng trong 25 ngày là 62.625 đồng (Sáu mươi hai nghìn sáu trăm hai mươi lăm đồng), số tiền thu lợi bất chính là 1.687.375 đồng (Một triệu sáu trăm tám mươi bảy nghìn ba trăm bảy mươi lăm đồng).

- Khoảng giữa tháng 10/2022 (không rõ ngày), Hcho bà N2vay lần 2 số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) với lãi suất và cách thức trả góp như lần 01 nhưng lấy tiền phí 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) tương đương với lãi suất 31,58%/tháng. Khoản vay này bà N2mới trả góp được 19 ngày với tổng số tiền là 4.750.000 đồng (Bốn triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) thì H9 đồng phạm đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bbắt giữ nên bà N2vẫn còn nợ H250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) tiền gốc. Số tiền thu lợi bất chính Hvà đồng phạm nhằm đạt được là 1.433.896 đồng (Một triệu bốn trăm ba mươi ba nghìn tám trăm chín mươi sáu đồng), nhưng H10 chỉ thu lợi bất chính được 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) tiền phí.

10. Khoảng tháng 9/2022 (không rõ ngày), Hcho bà Nguyễn Thị T8 N3ngụ tại số E, khu phố B, phường L, thành phố B lần 01 số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng), bà N3phải trả tiền phí 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) và đóng tiền trả góp trước 02 ngày là 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) nên số tiền bà N3được nhận là 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng). Tổng số tiền bà N3phải trả là 6.250.000 đồng (Sáu triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) và trả góp mỗi ngày 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) trong 25 ngày tương đương với lãi suất 33,33%/tháng. Tuy nhiên, sau khi trả góp được 15 ngày thì bà N3đã vay lần thứ 02 và Hđã trừ hết số tiền bà N3còn thiếu của lần vay này nên lãi suất thực tế là 55,56%/tháng. Số tiền lãi hợp pháp tương ứng với mức 1,67%/tháng mà Hvà đồng phạm được hưởng trong 15 ngày là 37.575 đồng (Ba mươi bảy nghìn năm trăm bảy mươi lăm đồng), số tiền thu lợi bất chính là 1.712.425 đồng (Một triệu bảy trăm mười hai nghìn bốn trăm hai mươi lăm đồng).

- Khoảng đầu tháng 10/2022 (không rõ ngày), Hcho bà N3vay lần 02 số tiền 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng), bà N3phải trả tiền phí 350.000 đồng (Ba trăm năm mươi nghìn đồng) và đóng tiền góp trước của 02 ngày là 700.000 đồng (Bảy trăm nghìn đồng). Tổng số tiền bà N3phải trả là 8.750.000 đồng (Tám triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) và trả góp mỗi ngày 350.000 đồng (Ba trăm năm mươi nghìn đồng) trong 25 ngày tương đương với lãi suất 31,58%/tháng. Do phải trả tiền còn thiếu của lần vay 01 nên số tiền bà N3được nhận là 3.450.000 đồng (Ba triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng). Tuy nhiên, sau khi trả góp được 15 ngày với số tiền 3.750.000 đồng (Ba triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) thì bà N3đã vay lần thứ 03 và Hđã trừ hết số tiền bà N3còn thiếu của lần vay này nên lãi suất thực tế là 52,63%/tháng. Số tiền lãi hợp pháp tương ứng với mức 1,67%/tháng mà Hvà đồng phạm được hưởng trong 15 ngày là 55.527 đồng (Năm mươi lăm nghìn năm trăm hai mươi bảy đồng), số tiền thu lợi bất chính là 2.044.473 đồng (Hai triệu không trăm bốn mươi bốn nghìn bốn trăm bảy mươi ba đồng).

- Ngày 26/10/2022, Hcho bà N3vay lần 3 số tiền 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) với tiền phí, lãi suất và cách thức trả góp như lần 02. Do phải trả tiền còn thiếu của lần vay 02 nên số tiền bà N3được nhận là 2.450.000 đồng (Hai triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng). Khoản vay này bà N3mới trả góp được 08 ngày thì Hvà đồng phạm đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bbắt giữ nên bà N3vẫn còn nợ H4.200.000 đồng (Bốn triệu hai trăm nghìn đồng) tiền gốc. Số tiền thu lợi bất chính Hvà đồng phạm nhằm đạt được là 2.007.455 đồng (Hai triệu không trăm lẻ bảy nghìn bốn trăm năm mươi lăm đồng) nhưng H10 thu lợi bất chính được 350.000 đồng (Ba trăm năm mươi nghìn đồng) tiền phí.

11. Khoảng tháng 9/2022 (không rõ ngày), Hcho bà Nguyễn Thị N9 L1ngụ tại số A, tổ D, khu phố D, phường T, thành phố B lần 01 số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), H16 lấy tiền phí và bà L1phải đóng tiền trả góp trước 02 ngày là 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) nên số tiền bà L1được nhận là 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng). Tổng số tiền bà L1phải trả là 6.250.000 đồng (Sáu triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) và trả góp mỗi ngày 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) trong 25 ngày tương đương với lãi suất 30%/tháng. Tuy nhiên, sau khi trả góp được 20 ngày thì bà L1đã vay lần thứ 02 và Hđã trừ hết số tiền bà L1còn thiếu của lần vay này nên lãi suất thực tế là 37,5%/tháng. Số tiền lãi hợp pháp tương ứng với mức 1,67%/tháng mà Hvà đồng phạm được hưởng trong 20 ngày là 55.666 đồng (Năm mươi lăm nghìn sáu trăm sáu mươi sáu đồng), số tiền thu lợi bất chính là 1.194.334 đồng (Một triệu một trăm chín mươi bốn nghìn ba trăm ba mươi bốn đồng).

- Ngày 6/10/2022, Hcho bà L1vay lần 02 số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng) với lãi suất và hình thức trả góp như lần 01 nhưng Hthu tiền phí là 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) nên lãi suất 31,58%/tháng. Do phải trả tiền còn thiếu của lần vay 01 nên bà L1chỉ được nhận 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng). Khoản vay này bà L1mới trả góp được 20 ngày với số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) thì H9 đồng phạm đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bbắt giữ. Số tiền thu lợi bất chính Hvà đồng phạm nhằm đạt được là 1.433.896 đồng (Một triệu bốn trăm ba mươi ba nghìn tám trăm chín mươi sáu đồng) nhưng H10 chỉ thu lợi bất chính được 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) tiền phí.

12. Khoảng giữa tháng 6/2022 (không rõ ngày), Hcho ông Đinh T9 D1ngụ tại số H, khu phố I, phường T, thành phố B lần 01 số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), ông D1phải trả tiền phí 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) và đóng tiền trả góp trước 02 ngày là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) nên số tiền ông D1được nhận là 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng). Tổng số tiền ông D1phải trả là 13.000.000 đồng (Mười ba triệu đồng) và trả góp mỗi ngày 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) trong 26 ngày tương đương với lãi suất 38,46%/tháng. Tuy nhiên, sau khi trả góp được 20 ngày thì ông D1đã vay lần thứ 02 và Hđã trừ hết số tiền ông D1còn thiếu của lần vay này nên lãi suất thực tế là 50%/tháng. Số tiền lãi hợp pháp tương ứng với mức 1,67%/tháng mà Hvà đồng phạm được hưởng trong 20 ngày là 100.200 đồng (Một trăm nghìn hai trăm đồng), số tiền thu lợi bất chính là 3.899.800 đồng (Ba triệu tám trăm chín mươi chín nghìn tám trăm đồng).

- Khoảng đầu tháng 7/2022 ((không rõ ngày), Hcho ông D1vay lần 02 số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) với tiền phí, lãi suất và cách thức trả góp như lần 01. Do phải trả tiền còn thiếu của lần vay 01 nên số tiền ông D1được nhận là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng). Khoản vay này ông D1cũng trả góp được 20 ngày thì vay tiếp lần 03 và H14 trừ hết số tiền còn thiếu của lần vay này nên lãi suất thực tế là 50%/tháng. Số tiền lãi hợp pháp tương ứng với mức 1,67%/tháng mà Hvà đồng phạm được hưởng trong 20 ngày là 100.200 đồng (Một trăm nghìn hai trăm đồng), số tiền thu lợi bất chính là 3.899.800 đồng (Ba triệu tám trăm chín mươi chín nghìn tám trăm đồng).

- Khoảng cuối tháng 7/2022 (không rõ ngày), Hcho ông D1vay lần 03 số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) với tiền phí, lãi suất và cách thức trả góp như lần 01. Do phải trả tiền còn thiếu của lần vay 02 nên số tiền ông D1được nhận là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) và khoản vay này ông D1đã trả xong. Số tiền lãi hợp pháp tương ứng với mức 1,67%/tháng mà Hvà đồng phạm được hưởng trong 26 ngày là 130.260 đồng (Một trăm ba mươi nghìn hai trăm sáu mươi đồng), số tiền thu lợi bất chính là 3.869.740 đồng (Ba triệu tám trăm sáu mươi chín nghìn bảy trăm bốn mươi đồng).

- Khoảng cuối tháng 8/2022 (không rõ ngày), Hcho ông D1vay lần 04 số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng), ông D1phải trả tiền phí 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) và đóng tiền trả góp trước 02 ngày là 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) nên số tiền ông D1được nhận là 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng). Tổng số tiền ông D1phải trả là 19.500.000 đồng (Mười chín triệu năm trăm nghìn đồng) và trả góp mỗi ngày 750.000 đồng (B1trăm năm mươi nghìn đồng) trong 26 ngày tương đương với lãi suất 38,46%/tháng. Khoản vay này ông D1đã trả xong. Số tiền lãi hợp pháp tương ứng với mức 1,67%/tháng mà Hvà đồng phạm được hưởng trong 26 ngày là 195.390 đồng (Một trăm chín mươi lăm nghìn ba trăm chín mươi đồng), số tiền thu lợi bất chính là 5.804.610 đồng (Năm triệu tám trăm lẻ bốn nghìn sáu trăm mười đồng).

13. Ngày 10/8/2022, Hcho ông Phạm T10 A1ngụ tại số B, khu phố A, phường T, thành phố B lần 01 số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng), ông A1phải trả tiền phí 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) và đóng tiền trả góp trước 02 ngày là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) nên số tiền ông A1được nhận là 17.000.000 đồng (Mười bảy triệu đồng). Tổng số tiền ông A1phải trả là 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng) và trả góp mỗi ngày 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) trong 25 ngày tương đương với lãi suất 31,58%/tháng. Khoản vay này ông A1đã trả xong. Số tiền lãi hợp pháp tương ứng với mức 1,67%/tháng mà Hvà đồng phạm được hưởng trong 25 ngày là 264.416 đồng (Hai trăm sáu mươi bốn nghìn bốn trăm mười sáu đồng), số tiền thu lợi bất chính là 5.735.584 đồng (Năm triệu bảy trăm ba mươi lăm nghìn năm trăm tám mươi bốn đồng).

- Ngày 15/9/2022, Hcho ông A1vay lần 02 số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) với tiền phí, lãi suất và cách thức trả góp như lần 01. Khoản vay này ông A1đã trả xong. Số tiền lãi hợp pháp tương ứng với mức 1,67%/tháng mà Huấn Và đồng phạm được hưởng trong 25 ngày là 264.416 đồng (Hai trăm sáu mươi bốn nghìn bốn trăm mười sáu đồng), số tiền thu lợi bất chính là 5.735.584 đồng (Năm triệu bảy trăm ba mươi lăm nghìn năm trăm tám mươi bốn đồng).

- Ngày 25/10/2022, Hcho ông A1vay lần 03 số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng), ông A1phải trả tiền phí 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) và đóng tiền trả góp trước 02 ngày là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng), nên số tiền ông A1được nhận là 25.500.000 đồng (Hai mươi lăm triệu năm trăm nghìn đồng). Tổng số tiền ông D1phải trả là 36.000.000 đồng (Ba mươi sáu triệu đồng) và trả góp mỗi ngày 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) trong 24 ngày tương đương với lãi suất 26,32%/tháng. Khoản vay này ông A1mới trả góp được 06 ngày với tổng số tiền 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng) thì H9 đồng phạm đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bbắt giữ nên ông A1còn nợ H21.000.000 đồng (Hai mươi mốt triệu đồng) tiền gốc. Số tiền thu lợi bất chính Hvà đồng phạm nhằm đạt được là 7.119.240 đồng (Bảy triệu một trăm mười chín nghìn hai trăm bốn mươi đồng) nhưng H10 chỉ thu lợi bất chính được 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) tiền phí.

14. Ngày 11/10/2022, H13 bà Trương Hồng Y, ngụ tại khu phố M, phường P, thành phố B số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), bà Y1 trả tiền phí 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) và đóng tiền trả góp trước 02 ngày là 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) nên số tiền bà Y2 nhận là 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng). Tổng số tiền bà Y1 trả là 6.250.000 đồng (Sáu triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) và trả góp mỗi ngày 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) trong 25 ngày tương đương với lãi suất 33,33%/tháng. Tuy nhiên, khoản vay này bà Y3 trả xong trong vòng 12 ngày nên lãi suất thực tế là 69,44%/ tháng. Số tiền lãi hợp pháp tương ứng với mức 1,67%/tháng mà Hvà đồng phạm được hưởng trong 12 ngày là 30.060 đồng (Ba mươi nghìn không trăm sáu mươi đồng), số tiền thu lợi bất chính là 1.719.940 đồng (Một triệu bảy trăm mười chín nghìn chín trăm bốn mươi đồng).

15. Khoảng tháng 9/2022 (không rõ ngày), Hcho bà Nguyễn Thị L1 tại khu phố Đ, phường P, thành phố B lần 01 số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng), bà L1phải trả tiền phí 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng) và đóng tiền trả góp trước 02 ngày là 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng) nên số tiền bà L1được nhận là 3.200.000 đồng (Ba triệu hai trăm nghìn đồng). Tổng số tiền bà L1phải trả là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) và trả góp mỗi ngày 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) trong 25 ngày tương đương với lãi suất 33,33%/tháng. Tuy nhiên, sau khi trả góp được 20 ngày thì bà L1đã vay lần thứ 02 và Hđã trừ hết số tiền bà L1còn thiếu của lần vay này nên lãi suất thực tế là 41,67%/tháng. Số tiền lãi hợp pháp tương ứng với mức 1,67%/tháng mà Hvà đồng phạm được hưởng trong 20 ngày là 40.080 đồng (Bốn mươi nghìn không trăm tám mươi đồng), số tiền thu lợi bất chính là 1.359.920 đồng (Một triệu ba trăm năm mươi chín nghìn chín trăm hai mươi đồng).

- Khoảng tháng 10/2022 (không rõ ngày), H cho bà L1vay lần 02 số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), bà L1phải trả tiền phí 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) và đóng tiền góp trước của 02 ngày là 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng). Tổng số tiền bà L1phải trả là 6.250.000 đồng (Sáu triệu hai trăm năm mươi đồng) và trả góp mỗi ngày 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) trong 25 ngày tương đương với lãi suất 31,58%/tháng. Do phải trả tiền còn thiếu của lần vay 01 nên số tiền bà L1được nhận là 3.250.000 đồng (Ba triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng). Tuy nhiên, bà L1mới trả góp được 22 ngày với số tiền 5.500.000 đồng (Năm triệu năm trăm nghìn đồng) thì H9 đồng phạm đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bbắt giữ. Số tiền lãi hợp pháp tương ứng với mức 1,67%/tháng mà Hvà đồng phạm được hưởng trong 22 ngày là 58.171 đồng (Năm mươi tám nghìn một trăm bảy mươi mốt đồng), số tiền thu lợi bất chính là 691.829 đồng (Sáu trăm chín mươi mốt nghìn tám trăm hai mươi chín đồng).

16. Khoảng tháng 8/2022 (không rõ ngày), Hcho ông Mã H17 L2ngụ tại số B, tổ F, khu phố E, phường L, thành phố B lần 01 số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), ông L2phải trả tiền phí 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) và đóng tiền trả góp trước 02 ngày là 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) nên số tiền ông L2được nhận là 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng). Tổng số tiền ông L2phải trả là 6.250.000 đồng (Sáu triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) và trả góp mỗi ngày 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) trong 25 ngày tương đương với lãi suất 33,33%/tháng. Khoản vay này ông L2đã trả xong. Số tiền lãi hợp pháp tương ứng với mức 1,67%/tháng mà Hvà đồng phạm được hưởng trong 25 ngày là 62.625 đồng (Sáu mươi hai nghìn sáu trăm hai mươi lăm đồng), số tiền thu lợi bất chính là 1.687.375 đồng (Một triệu sáu trăm tám mươi bảy nghìn ba trăm bảy mươi lăm đồng).

- Khoảng tháng 9/2022 (không rõ ngày), Hcho ông L2vay lần 02 số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), ông L2phải trả tiền phí 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) và đóng tiền trả góp trước 02 ngày là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) nên số tiền ông L2được nhận là 8.500.000 đồng (Tám triệu năm trăm nghìn đồng). Tổng số tiền ông L2phải trả là 12.500.000 đồng (Mười hai triệu năm trăm nghìn đồng) và trả góp mỗi ngày 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) trong 25 ngày tương đương với lãi suất 31,58%/tháng. Tuy nhiên, sau khi trả góp được 22 ngày ông L2đã vay lần thứ 02 và Hđã trừ hết số tiền ông L2còn thiếu của lần vay này nên lãi suất thực tế là 35,89%/tháng. Số tiền lãi hợp pháp tương ứng với mức 1,67%/tháng mà Hvà đồng phạm được hưởng trong 22 ngày là 116.343 đồng (Một trăm mười sáu nghìn ba trăm bốn mươi ba đồng), số tiền thu lợi bất chính là 2.883.657 đồng (Hai triệu tám trăm tám mươi ba nghìn sáu trăm năm mươi bảy đồng).

- Khoảng tháng 9/2022 (không rõ ngày), Hcho ông L2vay lần 03 số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), ông L2phải trả tiền phí 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng), và đóng tiền trả góp trước 02 ngày là 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng). Tổng số tiền ông L2phải trả là 12.800.000 đồng (Mười hai triệu tám trăm nghìn đồng) và trả góp mỗi ngày 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng) trong 32 ngày tương đương với lãi suất 27,63%/tháng. Do phải trả tiền còn thiếu của lần vay 02 nên số tiền ông L2được nhận là 7.200.000 đồng (Bảy triệu hai trăm nghìn đồng). Khoản vay này ông L2đã trả góp được 29 ngày với tổng số tiền là 11.600.000 đồng (Mười một triệu sáu trăm nghìn đồng) thì H9 đồng phạm đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bbắt giữ. Số tiền lãi hợp pháp tương ứng với mức 1,67%/tháng mà Hđược hưởng trong 29 ngày là 153.361 đồng (Một trăm năm mươi ba nghìn ba trăm sáu mươi mốt đồng), số tiền thu lợi bất chính là 1.946.639 đồng (Một triệu chín trăm bốn mươi sáu nghìn sáu trăm ba mươi chín đồng).

17. Khoảng tháng 10/2022 (không rõ ngày), Hcho bà Biện T11 H7ngụ tại số B, tổ A, khu phố B, phường T, thành phố B số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), H16 thu tiền phí và bà H7phải đóng tiền trả góp trước 02 ngày là 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng) nên số tiền bà H7được nhận là 4.600.000 đồng (Bốn triệu sáu trăm nghìn đồng). Tổng số tiền bà H7phải trả là 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) và trả góp mỗi ngày 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) trong 30 ngày tương đương với lãi suất 20%/tháng. Khoản vay này bà H7mới trả góp được 10 ngày với tổng số tiền 2.000.000đ (Hai triệu đồng) thì Hvà đồng phạm đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bbắt giữ nên bà H7vẫn còn nợ H3.000.000 đồng (Ba triệu đồng tiền gốc). Số tiền thu lợi bất chính Hvà đồng phạm nhằm đạt được là 916.500 đồng (Chín trăm mười sáu nghìn năm trăm đồng) nhưng chưa thu lợi được thì đã bị bắt giữ.

18. Khoảng tháng 10/2022 (không rõ ngày), Hcho ông Nguyễn Văn M1 tại số A, khu phố A, phường H, thành phố B số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), ông M2 trả tiền phí 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) và đóng tiền góp trước của 02 ngày là 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) nên số tiền ông M3 nhận là 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng). Tổng số tiền ông M2 trả là 6.750.000 đồng (Sáu triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) và trả góp mỗi ngày 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) trong 27 ngày tương đương với lãi suất 43,21%/tháng. Khoản vay này ông M4 trả góp được 06 ngày với tổng số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) thì Hvà đồng phạm đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bbắt giữ nên ông M5 nợ H3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm nghìn đồng) tiền gốc. Số tiền thu lợi bất chính Hvà đồng phạm nhằm đạt được là 2.182.365 đồng (Hai triệu một trăm tám mươi hai nghìn ba trăm sáu mươi lăm đồng) nhưng H10 thu lợi bất chính được 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) tiền phí.

19. Khoảng tháng 9/2022 (không rõ ngày), Hvà T1cho bà Tô Thị L2 N4tại tổ C, ấp M, khu phố M, phường P, thành phố B lần 01 số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), do không phải trả tiền phí và không phải đóng tiền trả góp trước nên số tiền bà L3được nhận là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng). Tổng số tiền bà L3phải trả là 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) và trả góp mỗi ngày 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) trong 24 ngày tương đương với lãi suất 25%/tháng. Tuy nhiên, sau khi trả góp được 18 ngày bà L3đã vay lần thứ 02 và T1đã trừ hết số tiền bà L3còn thiếu của lần vay này nên lãi suất thực tế là 33,33%/tháng. Số tiền lãi hợp pháp tương ứng với mức 1,67%/tháng mà H9 đồng phạm được hưởng trong 18 ngày là 50.100 đồng (Năm mươi nghìn một trăm đồng), số tiền thu lợi bất chính là 949.900 đồng (Chín trăm bốn mươi chín nghìn chín trăm đồng).

- Khoảng tháng 10/2022 (không rõ ngày), H9 T1cho bà L3vay lần 02 số tiền 5.000.000 đồng (Mười triệu đồng) với tiền phí, lãi suất và cách thức trả góp như lần 01. Do phải trả tiền còn thiếu của lần vay 01 nên số tiền bà L3được nhận là 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm nghìn đồng). Khoản vay này bà L3đã trả góp được 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) trong vòng 16 ngày thì H9 đồng phạm đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bbắt giữ bắt giữ nên bà L3còn nợ H1.000.000 đồng (Một triệu đồng) tiền gốc. Số tiền thu lợi bất chính Hvà đồng phạm nhằm đạt được là 933.200 đồng (Chín trăm ba mươi ba nghìn hai trăm đồng) nhưng chưa thu lợi được thì đã bị bắt giữ.

20. Khoảng cuối tháng 9/2022 (không rõ ngày), H9 T1cho bà Nguyễn Thị Đ tại khu phố M, phường P, thành phố B lần 01 số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng), bà Đ1 trả tiền phí 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) và đóng tiền trả góp trước 02 ngày là 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng) nên số tiền bà Đ2 nhận là 3.400.000 đồng (Ba triệu bốn trăm nghìn đồng). Tổng số tiền bà Đ1 trả là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) và trả góp mỗi ngày 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) trong 25 ngày tương đương với lãi suất 31,58%/tháng. Tuy nhiên, sau khi trả góp được 12 ngày thì bà Đ3 vay lần thứ 02 nên T1đã trừ hết số tiền bà Đ4 thiếu của lần vay này nên lãi suất thực tế là 65,79%/tháng. Số tiền lãi hợp pháp tương ứng với mức 1,67%/tháng mà Hvà đồng phạm được hưởng trong 12 ngày là 25.384 đồng (Hai mươi lăm nghìn ba trăm tám mươi bốn đồng), số tiền thu lợi bất chính là 1.174.616 đồng (Một triệu một trăm bảy mươi bốn nghìn sáu trăm mười sáu đồng).

- Khoảng giữa tháng 10/2022 (không rõ ngày), H9 T1cho bà Đ5 lần 02 số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), bà Đ1 trả tiền phí 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) và đóng tiền góp trước của 02 ngày là 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng). Tổng số tiền bà Đ1 trả là 6.250.000 đồng (Sáu triệu hai trăm năm mươi đồng) và trả góp mỗi ngày 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) trong 25 ngày tương đương với lãi suất 31,58%/tháng. Do phải trả tiền còn thiếu của lần vay 01 nên số tiền bà Đ2 nhận là 1.650.000 đồng (Một triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng). Tuy nhiên, sau khi trả góp được 12 ngày bà Đ3 vay lần thứ 03 và Hđã trừ hết số tiền bà Đ4 thiếu của lần vay này nên lãi suất thực tế là 65,79%/tháng. Số tiền lãi hợp pháp tương ứng với mức 1,67%/tháng mà Hvà đồng phạm được hưởng trong 12 ngày là 31.730 đồng (Ba mươi mốt nghìn bảy trăm ba mươi đồng), số tiền thu lợi bất chính là 1.468.270 đồng (Một triệu bốn trăm sáu mươi tám nghìn hai trăm bảy mươi đồng)

- Khoảng cuối tháng 10/2022 (không rõ ngày), H9 T1cho bà Đ5 lần 03 số tiền 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng), bà Đ1 trả tiền phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) và đóng tiền góp trước của 02 ngày là 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng). Tổng số tiền bà Đ1 trả là 7.500.000 đồng (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng) và trả góp mỗi ngày 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) trong 25 ngày tương đương với lãi suất 31,58%/tháng. Do phải trả tiền còn thiếu của lần vay 02 nên số tiền bà Đ2 nhận là 1.850.000 đồng (Một triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng). Khoản vay này bà Đ6 trả góp được 05 ngày với tổng số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) thì Hvà đồng phạm đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bbắt giữ nên bà Đ4 nợ H4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng) tiền gốc. Số tiền thu lợi bất chính Hvà đồng phạm nhằm đạt được là 1.720.675 đồng (Một triệu bảy trăm hai mươi nghìn sáu trăm bảy mươi lăm đồng) nhưng H18 mới thu lợi bất chính được 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền phí.

21. Ngày 25/10/2022, H13 bà Nguyễn Thị T12 N5tại khu phố T, phường P, thành phố B số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), bà T6phải trả tiền phí 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) và đóng tiền góp trước của 02 ngày là 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) nên số tiền bà T6nhận được là 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng). Tổng số tiền bà T6phải trả là 6.250.000 đồng (Sáu triệu hai trăm năm mươi đồng) và trả góp mỗi ngày 250.000đ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) trong 25 ngày tương đương với lãi suất 33,33%/tháng. Khoản vay này bà T6mới trả góp được 06 ngày với tổng số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) thì Hvà đồng phạm đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bbắt giữ nên bà T6còn nợ Hsố tiền 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm nghìn đồng) tiền gốc. Số tiền thu lợi bất chính Hvà đồng phạm nhằm đạt được là 1.687.375 đồng (Một triệu sáu trăm tám mươi bảy nghìn ba trăm bảy mươi lăm đồng) nhưng H10 thu lợi bất chính được 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) tiền phí.

Ngày 29/10/2022, Đội Cảnh sát kinh tế Công an thành phố Bphối hợp với Công an phường T hộ khẩu tại chỗ ở của Trần Công H, Phan Nhân T Tiến Ttại nhà số: A, khu phố B, phường T, thành phố B phát hiện Trần Công HPhan Nhân T1Nguyễn Tiến Tcó hành vi cho vay lãi nặng nên đã tiến hành lập hồ sơ điều tra, xác minh. Ngày 31/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bđã bắt, tạm giữ Trần Công HPhan N10 T1Nguyễn Tiến Tđể điều tra, xử lý.

Điều 468 Bộ luật dân sự quy định lãi suất do các bên tự thỏa thuận, nhưng không vượt quá 20%/năm (tương đương 1,67%/tháng). Trần Công HPhan N10 T1Nguyễn Tiến T7 đã cho 21 người vay tiền trong 50 lần vay với lãi suất từ 14,35%/tháng đến 69,44%/tháng đã vượt gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định theo Bộ luật dân sự. Số tiền Trần Công HPhan N10 T18 thu lợi bất chính là 138.064.373 đồng (Một trăm ba mươi tám triệu không trăm sáu mươi bốn nghìn ba trăm bảy mươi ba đồng). Tuy nhiên, Trần Công HPhan N10 T19 thu lợi bất chính được 102.861.384 đồng (Một trăm lẻ hai triệu tám trăm sáu mươi mốt nghìn ba trăm tám mươi bốn đồng) thì bị bắt giữ để điều tra, xử lý. Đối với số tiền gốc sử dụng để cho vay do Vũ Ngọc A6 lý, hiện nay chưa làm việc được với Vũ Ngọc A7 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đủ căn cứ xác định.

Các vật chứng được thu giữ gồm:

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus, số IMEI: 356693084240672 là phương tiện bị cáo Nguyễn Tiến T13 dụng vào việc phạm tội

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone XR, số IMEI: 357370096189895 là phương tiện bị cáo Phan N11 T1sử dụng vào việc phạm tội

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, số IMEI: 357269091269704 là phương tiện bị cáo Trần Công H19 dụng vào việc phạm tội.

- 01 xe mô tô hiệu Wave, biển số 60F2-91122 và 01 xe mô tô hiệu Air Blade, biển số 48B1-081.43 do đối tượng Vũ Ngọc A8 giữ. Hiện nay chưa tìm được Vũ Ngọc A7 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bkhông thu giữ được.

Tại bản án sơ thẩm số 606/2023/HS-ST ngày 13 tháng 11 năm 2023, Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa quyết định:

Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 201; Điều 38; Điều 46; Điều 47; Điều 48; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); các Điều 45, 106, 135, 136, 326, 327, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố các bị cáo Trần Công HPhan N10 T1và Nguyễn Tiến T14 tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

- Xử phạt bị cáo Trần Công H20 (Một) năm tù, nhưng được trừ thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/10/2022 đến ngày 18/01/2023, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.

- Xử phạt bị cáo Phan Nhân T15 (C) tháng tù, nhưng được trừ thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/10/2022 đến ngày 18/01/2023, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến T16 (S8) tháng tù, nhưng được trừ thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/10/2022 đến ngày 18/01/2023, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về biện pháp tư pháp, về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 27/11/2023, BC Trần Công HNguyễn Tiến TPhan N12 T1có đơn kháng cáo.

Nội dung kháng cáo: Các bị cáo đề nghị cấp phúc thẩm xem xét lại bản án sơ thẩm, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Hành vi của các bị cáo HTT1là rất nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự an ninh xã hội, coi thường pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 201 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà các bị cáo thực hiện cũng như các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng với các bị cáo là phù hợp.

Các bị cáo kháng cáo nhưng không đưa ra được chứng cứ, tài liệu gì đặc biệt mới, vì vậy, không có cơ sở chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của Bị cáo Trần Công HPhan N10 T1Nguyễn Tiến Tlàm trong hạn luật định là hợp lệ, đúng theo quy định tại các Điều 331, Điều 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên được xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo vắng mặt. Sau khi nghe ý kiến của Kiểm sát viên xét thấy, các bị cáo đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 290 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử hội ý và chấp nhận đơn xin xét xử vắng mặt của các bị cáo.

Về nội dung kháng cáo của các bị cáo Trần Công HPhan N10 T1Nguyễn Tiến Txin giảm nhẹ hình phạt, xét thấy:

Khoảng từ tháng 06/2022 đến ngày 29/10/2022 Trần Công HPhan N10 T1và Nguyễn Tiến T17 giúp sức cho đối tượng Vũ Ngọc A9 hiện hành vi cho 21 người vay tiền trong 50 lần với mức lãi suất từ 14,35%/tháng đến 69,44%/tháng đã vượt gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự để nhằm thu lợi bất chính số tiền là 138.064.373 đồng (Một trăm ba mươi tám triệu không trăm sáu mươi bốn nghìn ba trăm bảy mươi ba đồng) và số tiền thu lợi bất chính thực tế đã chiếm đoạt là 102.861.384 đồng (Một trăm lẻ hai triệu tám trăm sáu mươi mốt nghìn ba trăm tám mươi bốn đồng).

Tình hình tội phạm hoạt động cho vay nặng lãi ngày càng diễn biến phức tạp, quy mô lớn với những phương thức, thủ đoạn ngày một tinh vi, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người vay và gây nhiều hệ lụy xấu cho xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo không những trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của nhà nước, trật tự trong hoạt động tín dụng mà còn xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Các bị cáo vì vụ lợi, muốn làm giàu bất chính nên đã bất chấp sự trừng trị của pháp luật mà thực hiện hành vi cho vay với lãi suất cao gấp hơn nhiều lần so với quy định của Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính với số tiền trên 100.000.000 đồng. Do đó, đối với các bị cáo cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét Tòa án cấp sơ thẩm khi quyết định hình phạt đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo cũng như áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, xử phạt các bị cáo mức án phù hợp đúng với quy định của pháp luật. Tại giai đoạn phúc thẩm, các bị cáo không bổ sung thêm tài liệu, chứng cứ hay tình tiết giảm nhẹ nào mới, do đó Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo T20 sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận, ngoài án phí sơ thẩm các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết lại.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

1. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Công HPhan N10 T1Nguyễn Tiến Tgiữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 606/2023/HS-ST ngày 13 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 201; Điều 38; Điều 46; Điều 47; Điều 48; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017);

- Xử phạt bị cáo Trần Công H20 (Một) năm tù, nhưng được trừ thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/10/2022 đến ngày 18/01/2023, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.

- Xử phạt bị cáo Phan Nhân T15 (C) tháng tù, nhưng được trừ thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/10/2022 đến ngày 18/01/2023, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến T16 (S8) tháng tù, nhưng được trừ thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/10/2022 đến ngày 18/01/2023, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.

2. Các bị cáo Trần Công HPhan N10 T1Nguyễn Tiến Tmỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ