- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LY HÔN"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ các điều 28, 35, 39, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và …
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 131/2025/HNGĐ-ST Ngày 30 - 9 - 2025 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – VĨNH LONG
-.Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Tâm.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lê Thị Mỹ Lệ.
Bà Trần Kim Quyên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Ka Phu – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025 tại Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 41/2025/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 7 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106A/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 29/8/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 64A/2025/QĐST-HNGĐ ngày 14/9/2025 giữa:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị N, sinh năm 1990.
Địa chỉ: ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long.
Chỗ ở hiện nay: số B, Khu phố B, phường P, tỉnh Vĩnh Long.
- Bị đơn: Ông Đặng Hoàng L, sinh năm 1991.
Địa chỉ: ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long.
Bà Trần Thị N có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, ông Đặng Hoàng L vắng mặt không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo Đơn khởi kiện, Bản tự khai, Đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt nguyên đơn bà Trần Thị N trình bày:
Về hôn nhân: Bà và ông Đặng Hoàng Lâm C sống với nhau vào năm 2015, có đăng ký kết hôn ngày 22/5/2015 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là xã T, tỉnh Vĩnh Long). Thời gian đầu bà và ông Lâm C sống hạnh phúc, tuy nhiên đến tháng 01 năm 2025 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, bất đồng ý kiến, sống với nhau không hạnh phúc. Bà và ông Lâm ly T từ đó cho đến nay, không sống chung lại với nhau ngày nào. Nay bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông L.
Về con chung: Bà và ông Đặng Hoàng L có 02 con chung tên Đặng Huỳnh Bảo T1, sinh ngày 02/5/2016 và Đặng Huỳnh Nhã P, sinh ngày 20/9/2022 hiện cháu T1 và cháu P đang được bà trực tiếp nuôi dưỡng. Bà có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Trong quá trình giải quyết vụ án do ông L vắng mặt không lý do, nên không có lời trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Vĩnh Long phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án, trong quá trình giải quyết và cho đến trước phiên tòa hôm nay Thẩm phán thực hiện đúng các bước theo thủ tục tố tụng. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử chấp hành và tuân theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa phía nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị N đối với bị đơn ông Đặng Hoàng L. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà N đối với ông L. Ghi nhận bà N và ông L có 02 con chung tên Đặng Huỳnh Bảo T1, sinh ngày 02/5/2016 và Đặng Huỳnh Nhã P, sinh ngày 20/9/2022. Chấp nhận yêu cầu nuôi con chung của bà N đối với ông L. Giao cháu Đặng Huỳnh Bảo T1 và cháu Đặng Huỳnh Nhã P cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận bà N không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Bà N khai không có nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Vĩnh Long căn cứ vào các Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thụ lý và giải quyết vụ án là đúng quy định pháp luật. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa ông Đặng Hoàng L đều vắng mặt dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ các thông báo thụ lý vụ án, các giấy triệu tập ông L tham gia kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, nhưng ông L vẫn vắng mặt không lý do; Về phía bà Trần Thị N có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông L và bà N.
Về nội dung vụ án: Bà Trần Thị N và ông Đặng Hoàng L bắt đầu chung sống với nhau vào năm 2015, có đăng ký kết hôn ngày 22/5/2015 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là xã T, tỉnh Vĩnh Long), vì vậy hôn nhân của ông bà là hợp pháp. Theo lời trình bày của bà N cho rằng, thời gian đầu bà và ông Lâm C sống hạnh phúc, tuy nhiên đến tháng 01 năm 2025 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, bất đồng ý kiến, sống với nhau không hạnh phúc. Bà và ông Lâm ly T từ đó cho đến nay, không sống chung lại với nhau ngày nào. Xét thấy, giữa ông Đăng Hoàng L1 và bà Trần Thị N có thời gian ly thân đã lâu, trong thời gian này giữa ông L1 và bà N không có biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng với nhau. Tòa án thông báo cho ông L1 các phiên hòa giải, mục đích động viên cho ông và bà N đoàn tụ sống lại với nhau nhưng ông L1 không chấp hành, xem như ông L1 đã từ bỏ quyền của mình và không có thiện chí đoàn tụ với bà N. Mặt khác, bà N kiên quyết ly hôn, không đồng ý đoàn tụ với ông L1. Hội đồng xét xử thấy rằng, cuộc sống vợ chồng phải được xây dựng trên cơ sở thương yêu, quý trọng, chăm sóc lẫn nhau nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, bền vững nhưng ông L1 và bà N không đảm bảo nguyên tắc này. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N đối với ông L1.
Về con chung: Bà Trần Thị N và ông Đặng Hoàng L có 02 con chung tên Đặng Huỳnh Bảo T1, sinh ngày 02/5/2016 và Đặng Huỳnh Nhã P, sinh ngày 20/9/2022 hiện cháu T1 và cháu P đang được bà N trực tiếp nuôi dưỡng, bà N có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy, hiện cháu T1 và cháu P đang sống chung với bà N và được bà chăm sóc tốt, đối với cháu T1 có nguyện vọng được sống chung với bà N nên Hội đồng xét xử thấy rằng việc giao cháu T1 và cháu P cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng tại thời điểm này là phù nên được chấp nhận, ghi nhận bà N không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung. Đối với ông Đặng Hoàng L không đến Toà án để giải quyết nên không thể lấy ý kiến của ông L về việc nuôi con chung, do đó Toà án chỉ xem xét yêu cầu của bà N.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà N khai không có nên không xem xét.
Lời phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Vĩnh Long tại phiên tòa về vấn đề tuân theo pháp luật tố tụng của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng là phù hợp. Về nội dung giải quyết vụ án, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí hôn nhân gia đình: Bà Trần Thị N phải chịu 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ các điều 28, 35, 39, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[2] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị N đối với ông Đặng Hoàng L.
Bà Trần Thị N được ly hôn với ông Đặng Hoàng L.
[3] Về con chung: Bà Trần Thị N và ông Đặng Hoàng L có 02 con chung tên Đặng Huỳnh Bảo T1, sinh ngày 02/5/2016 và Đặng Huỳnh Nhã P, sinh ngày 20/9/2022. Chấp nhận yêu cầu nuôi con chung và việc cấp dưỡng nuôi con chung của bà N đối với ông L. Giao cháu Đặng Huỳnh Bảo T1 và Đặng Huỳnh Nhã P cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận bà N không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông Đặng Hoàng L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở.
Vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi việc cấp dưỡng cho con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84, Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Bà N khai không có.
[5] Về án phí: Bà Trần Thị N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà N đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số: 0000496 ngày 21/7/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.
[6] Đương sự có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai tại UBND nơi cư trú, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND KV 8 – Vĩnh Long; - THADS tỉnh Vĩnh Long; - TAND tỉnh Vĩnh Long; - Các đương sự; - UBND xã Thới Thuận, tỉnh Vĩnh Long; - Lưu hồ sơ. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Minh Tâm |