vanban.org

Bản án 131/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Kim V. Bà Nguyễn Thị Kim V được ly hôn ông Trần Văn M.

2/ Về con chung: Giao con chung tên Trần Ngọc Như Ý, sinh ngày 12/10/2020 cho bà Nguyễn Thị Kim V trực tiếp nuôi dưỡng. 3/ Về cấp dưỡng cho con: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Kim V, không yêu cầu ông Trần Văn M cấp dưỡng cho con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Kim V"
  • Tòa quyết gì? 1/ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Kim V. Bà Nguyễn Thị Kim V được ly hôn ông Trần Văn M.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HOÀI NHƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 131/2024/HNGĐ – ST
Ngày: 29-3-2024
V/v tranh chấp “Ly hôn, tranh
chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Long Nhiên

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phan Văn Siêng

2. Ông Nguyễn Hữu Tố

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Tuyết Mai – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Quang – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 3 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 552/2023/TLST - HNGĐ ngày 21 tháng 12 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim V, sinh năm 1995 (có mặt)

Địa chỉ: Khu phố C, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định.

Bị đơn: Ông Trần Văn M, sinh năm 1993 (yêu cầu giải quyết vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố X, khu phố T, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

+ Theo đơn khởi kiện và trình bày của nguyên đơn, bà Nguyễn Thị Kim V xác định: Bà và ông Trần Văn M kết hôn năm 2018, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định. Trong thời gian chung sống, giữa hai vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, không thể hàn gắn được. Nay bà thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông Trần Văn M.

Về con chung: Có một con chung tên Trần Ngọc Như Ý, sinh ngày 12-10-2020. Khi ly hôn, bà V yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu ông M cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

+ Theo trình bày tại bản tự khai đề ngày 26/12/2023 của ông Trần Văn M, xác định: Năm 2017, ông là Trần Văn M có đăng ký kết hôn với vợ là Nguyễn Thị Kim V tại Ủy ban nhân dân phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định. Đến năm 2020, vợ chồng sinh được cháu Trần Ngọc Như Ý, cháu sinh ngày 12/10/2020, đăng ký khai sinh tại Ủy ban nhân dân phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định. Khi đăng ký kết hôn, vợ chồng tự nguyện kết hôn với nhau và không bị ai lừa dối hay cưỡng ép kết hôn. Sau khi đăng ký kết hôn thì vợ chồng ông về sống cùng gia đình ông tại địa chỉ khu phố T, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định. Cuộc sống hôn nhân của hai vợ chồng ông vẫn hạnh phúc, vợ chồng ông không có mâu thuẫn gì lớn. Ông là chồng vẫn thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Tuy nhiên, ông có đi làm xa ở thành phố Hồ Chí Minh, cuộc sống vợ chồng có xa nhau và kinh tế gia đình có chút khó khăn, ông mong vợ hiểu cho ông.

1. Về quan hệ hôn nhân: Vợ ông là Nguyễn Thị Kim V có yêu cầu ly hôn với ông, ông không đồng ý. Ông mong muốn được Toà án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định hoà giải cho vợ chồng ông đoàn tụ quay lại với nhau. Ông vẫn còn yêu thương vợ ông là Nguyễn Thị Kim V và con ông là Trần Ngọc Như Ý, ông không muốn bố mẹ ly hôn để con ông sau này bị thiếu thốn tình cảm khi gia đình mỗi người một nơi. Cuộc sống hiện tại gia đình ông, kinh tế có chút khó khăn nhưng ông mong và hi vọng vợ con sẽ hiểu và cùng nhau chia sẻ với ông để cả gia đình cùng nhau cố gắng vượt qua. Cả hai bên gia đình nội và ngoại (cha, mẹ) ông vẫn yêu thương, vợ chồng ông và mong muốn vợ chồng hạnh phúc, cùng nhau nuôi dạy, chăm sóc con.

2. Về con chung: vợ chồng ông sinh được cháu Trần Ngọc Như Ý, cháu sinh ngày 12/10/2020, đăng ký khai sinh tại Ủy ban nhân dân phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định. Vợ ông là Nguyễn Thị Kim V có yêu cầu nuôi con và không yêu cầu ông cấp dưỡng khi ly hôn. Ông không đồng ý vì con còn nhỏ cần được sự chăm sóc yêu thương của cả bố và mẹ. Nếu trong trường hợp ly hôn, ông mong muốn được nuôi con và yêu cầu Toà án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định giải quyết theo đúng quy định pháp luật.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Ông không có tài sản chung hay nợ chung trong thời kỳ hôn nhân.

+ Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là phù hợp quy định của pháp luật.

Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Kim V, bà Nguyễn Thị Kim V được ly hôn ông Trần Văn M; về con chung: giao con chung tên Trần Ngọc Như Ý, sinh ngày 12/10/2020 cho bà V trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của bà V, không yêu cầu ông M cấp dưỡng cho con; về tài sản chung, nợ chung: không có; về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Kim V chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị Kim V có đơn yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa chị với ông Trần Văn M. Ông M có hộ khẩu thường trú tại thị xã H, tỉnh Bình Định. Do đó, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.

Tại phiên tòa, nguyên đơn, bà Nguyễn Thị Kim V có mặt, ông Trần Văn M có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn.

Về nội dung:

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim V và ông Trần Văn M kết hôn năm ngày 09/01/2018, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định là hôn nhân hợp pháp. Theo bà V, trong thời gian chung sống, ông M không có trách nhiệm với gia đình, thường xuyên cờ bạc, nợ nần. Bà V đã cho ông M cơ hội nhiều lần nhưng anh không sửa đổi. Ông M không đồng ý ly hôn vì còn tình cảm với vợ nhưng ông không có biện pháp cụ thể để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Hiện tại, ông M và bà V sống mỗi người một nơi.

Hội đồng xét xử thấy rằng hôn nhân trên thực tế giữa bà V và ông M là không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của Bà Nguyễn Thị Kim V là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về con chung: Có một con chung tên Trần Ngọc Như Ý, sinh ngày 12/10/2020. Con chung còn nhỏ và hiện đang được bà V trực tiếp nuôi dưỡng. Nghĩ nên tiếp tục giao con cho bà V nuôi dưỡng là phù hợp với điều kiện thực tế, đảm bảo cuộc sống hàng ngày cho cháu Ý.

Về cấp dưỡng cho con: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Kim V, không yêu cầu ông Trần Văn M cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên Tòa không xem xét.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Kim V phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng sung công quỹ Nhà nước.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì những lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ các Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Kim V. Bà Nguyễn Thị Kim V được ly hôn ông Trần Văn M.

2/ Về con chung: Giao con chung tên Trần Ngọc Như Ý, sinh ngày 12/10/2020 cho bà Nguyễn Thị Kim V trực tiếp nuôi dưỡng.

3/ Về cấp dưỡng cho con: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Kim V, không yêu cầu ông Trần Văn M cấp dưỡng cho con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

4/ Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên miễn xét.

5/ Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Kim V nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng sung vào ngân sách Nhà nước.

Bà Nguyễn Thị Kim V đã nộp đủ 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0006054 ngày 21 tháng 12 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.

6/ Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ để Tòa án cấp trên xét xử theo trình tự phúc thẩm.

7/ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành tại Điều 2, Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30, Luật Thi hành án Dân sự.

Cỡ chữ