vanban.org

Bản án 131/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước Tuyên án 26/10/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo bị cáo Lương Minh T phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Lương Minh T 01 năm, 06 tháng tù (một năm, sáu tháng tù). Thời hạn tù tính từ ngày 05/05/2023. [2] Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Minh T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo bị cáo Lương Minh T phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÙ ĐĂNG
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 131/2023/HSST
Ngày: 26/10/2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Thanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quang Cường

Bà Đỗ Thị Ngoãn

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Chang – Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Đàm - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 129/2023/ HSST ngày 12 tháng 10 năm 2023. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 270/2023/QĐXXST – HS ngày 15 tháng 10 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lương Minh T, (tên gọi khác: không), sinh năm 1969, tại tỉnh Lạng Sơn.

Căn cước công dân số: 070204005XXX

Nơi cư trú: Thôn X, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hóa: 10/10; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Đình C (đã chết) và bà Lê Thị T (đã chết); bị cáo có vợ là Hoàng Ngọc A và 02 người con, lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

Ngày XX/X/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng xử phạt 02 năm tù về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo Bản án số XX/HSST. Bị cáo đã chấp hành xong và được xóa án tích.

Ngày XX/XX/2010, bị Chủ tich UBND huyện Bù Đăng ra Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 18 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Ngày XX/X/2012, bị Chủ tich UBND huyện Bù Đăng ra Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày XX/5/2023 cho đến nay, (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 01/5/2023, Lương Minh T đi bộ ra sân bóng chuyền gần nhà mình thuộc thôn 4, xã Phước Sơn, huyện Bù Đăng thì gặp một người đàn ông tên “Đảm” (không rõ nhân thân, lý lịch). Vì trước đây cả hai có sử dụng ma túy cùng nhau nên “Đảm” nói với T là sử dụng ma túy đá để cai Heroin, T không nói gì và sử dụng ma túy cùng “Đảm”. Sau đó, T đi vào rẫy nhặt điều, trưa cùng ngày T quay về đi qua sân bóng gặp thì “Đảm” nói với T là có để lại 01 gói ma túy đá cất trong gói thuốc lá và bộ dụng cụ sử dụng cất giấu trong chuồng lợn (heo) bỏ hoang phía sau nhà T. Khoảng 07 giờ ngày 05/5/2023, T đi ra chuồng lợn lấy gói thuốc lá chứa ma túy ra bỏ vào túi quần và lấy bộ dụng cụ ra để chuẩn bị sử dụng thì Công an huyện Bù Đăng phối hợp với Công an xã Phước Sơn ập vào kiểm tra. Thấy có dấu hiệu phạm tội nên lực lượng công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong tang vật (ký hiệu M có chữ ký của T) để điều tra, xử lý theo luật định, test nhanh ma túy đối với T cho kết qua dương tính.

Tại Kết luận giám định số: 504/KL-KTHS ngày 11/5/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước, kết luận: Tinh thể màu trắng (ký hiệu M) được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methaphetamine, có khối lượng là: 0,1146 gam.

Về vật chứng vụ án: Số ma túy còn lại sau giám định đã được niêm phong, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy được chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Đăng để phục vụ việc truy tố, xét xử.

Tại Cáo trạng số 130/CT –VKS.BĐ ngày 10/10/2023, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo Lương Minh T về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát khẳng định nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Vì vậy. đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố.

Về tội danh: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lương Minh T phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma túy;

Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lương Minh T từ 15 đến 18 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, không có thu nhập ổn định nên không đề nghị áp dụng.

Bị cáo Lương Minh T thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tranh luận về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác đối với đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng, bị cáo T hối hận về hành vi của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bù Đăng, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 05/5/2023, Lương Minh T có hành vi tàng trữ 0,1146 gam ma túy, loại Methaphetamine trong túi quần tại Thôn X, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước với mục đích sử dụng thì bị Công an huyện Bù Đăng phối hợp với Công an xã Phước Sơn kiểm tra, phát hiện bắt quả tang người cùng tang vật xử lý theo quy định.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm và hành vi phạm tội.

Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở khẳng định hành vi của bị cáo Lương Minh T đã phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Methamphetamine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Như vậy, nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đánh giá tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hại cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, làm mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo đã từng bị đưa đi cai nghiện bắt buộc về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và bị Toà án nhân dân huyện Bù Đăng xử phạt 02 năm tù về Tội tàng trữ trái phép chất mà túy nên nhận thức rõ được mọi hành vi liên quan đến ma túy là vi phạm pháp luật, là nguyên nhân có thể gây ra nhiều loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác nhưng không biết lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn cố ý thực hiện.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015.

Xét toàn bộ tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ mà các bị cáo được hưởng, Hội đồng xét xử thấy cần xử bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Cần tịch thu tiêu hủy: Số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong một phong bì có ký hiệu 504M của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì ngoài hình phạt chính thì Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, do bị cáo là người nghiện ma túy không có thu nhập ổn định nên miễn chấp hành hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

- Đối với người tên “Đảm” theo lời khai bị cáo T là người cho bị cáo ma túy và bộ dụng cụ để sử dụng, không xác minh được nhân thân, lý lịch, không làm việc được; không có tài liệu, chứng cứ khác. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bù Đăng tách ra xác minh xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với quan điểm xử lý vụ án của đại diện Viện kiển sát tham gia phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo bị cáo Lương Minh T phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Lương Minh T 01 năm, 06 tháng tù (một năm, sáu tháng tù). Thời hạn tù tính từ ngày 05/05/2023.

[2] Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tuyên tịch thu tiêu hủy: Số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong một phong bì có ký hiệu 504M của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng số 0010XXX ngày 11/10/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bù Đăng và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Đăng)

[3] Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Lương Minh T phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ