vanban.org

Bản án 131/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Qui Nhơn, tỉnh Bình Định Tuyên án 21/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phục P phạm tội: “Trốn khỏi nơi giam”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Phục P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, tổng hợp với hình phạt 14 (mười bốn) năm 06 (sáu) tháng tù của Bản án số 44/2023/HSST ngày 28-3-2023 của Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của nhiều bản án là 16 (mười sá… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Phục P trốn khỏi nơi giam - phạm tội trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang bị áp giải, đang bị xét xử (điều 386 Luật sửa đổi, bổ…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phục P phạm tội: “Trốn khỏi nơi giam”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ QUY NHƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 131/2023/HS-ST
Ngày: 21-8-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN - TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Đình Hưng

Các hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Đông và ông Hồ Đắc Toàn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Thao - Thư ký Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 111/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 138/2023/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2023, theo Quyết định hoãn phiên tòa số 98/2023/HSST-QĐ ngày 11 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Phục P (Tên gọi khác: L), sinh năm 1997 tại tỉnh Khánh Hòa; Nơi thường trú: Không có;

Nơi đã cư trú:

- Số X đường B, phường T, TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định

- Số Y đường H, phường N, TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định;

- Tổ M, khu phố N, phường Q, TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định;

Nơi ở hiện tại: Không có nơi cư trú nhất định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn P (đã chết) và bà: Nguyễn Thị Như H, sinh năm 1969; Sống như vợ chồng với chị Văn Thị Tuyết T, sinh năm 1995;

Tiền án (05 tiền án):

- Ngày 23/10/2015, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong.

- Ngày 31/7/2017, bị Tòa án nhân dân TX. Sông Cầu tỉnh Phú Yên xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong.

- Ngày 10/8/2017, bị Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn tỉnh Bình Định xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong.

- Ngày 17/7/2019, bị Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn tỉnh Bình Định xử phạt 18 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, đã chấp hành xong.

- Ngày 22/7/2022, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xử phạt 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 28/3/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn xử phạt 05 năm 06 tháng tù giam về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tổng hợp với hình phạt 09 năm tù giam về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Buộc P phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 14 năm 06 tháng tù. Bị cáo hiện chấp hành hình phạt tù tại trại giam Đắk Trung huyện Cư Mgar, tỉnh Đắk Lắk; Bị bắt tạm giam ngày 09/02/2023 (trong vụ án khác); Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Trại tạm giam Công an tỉnh Bình Định

Người đại diện theo pháp luật: Ông Võ Quang T - Giám Thị

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Hải Q - Phó giám thị (Có mặt)

(Theo văn bản ủy quyền ngày 01/6/2023).

2. Anh Võ Ngọc H1, sinh năm 1998 (Vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn X, xã P, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.

- Người làm chứng:

Anh Hồ Xuân H, anh Đoàn Đỗ T, chị Văn Thị Tuyết T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 23/8/2022, TAND tỉnh Bình Định ban hành Quyết định thi hành án phạt tù số 234/2022/QĐ-CA đối với Nguyễn Phục P bị kết án 09 năm tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đến ngày 05/01/2023, Cơ quan Thi hành án hình sự - Công an tỉnh Bình Định ra Quyết định truy nã đối với P do P bỏ trốn. Ngày 03/02/2023, P bị Công an phường Đống Đa, TP. Quy Nhơn bắt theo Quyết định truy nã và bàn giao cho Phòng Cảnh sát Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp - Công an tỉnh Bình Định.

Lúc 11h15' ngày 04/02/2023, Phòng Cảnh sát Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp - Công an tỉnh Bình Định tiến hành bàn giao Nguyễn Phục P cho Trại tạm giam - Công an tỉnh Bình Định để giam chờ thi hành án. Khoảng 11h40' cùng ngày, P có triệu chứng bệnh lý tức ngực, khó thở, nhịp tim nhanh, huyết áp cao nên Trại tạm giam - Công an tỉnh Bình Định tiến hành trích xuất, áp giải đưa P đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định. Tại đây, P được bố trí nằm điều trị tại Phòng số 5, tầng 3, khoa Nội tim mạch có sự canh giữ của cán bộ, chiến sỹ Trại tạm giam - Công an tỉnh Bình Định. Khi đưa P đi Bệnh viện, cán bộ y tế của Trại tạm giam - Công an tỉnh Bình Định có thông báo cho chị Văn Thị Tuyết T (sinh năm: 1995; trú: thị xã An Nhơn, Bình Định - Sống như vợ chồng với P) đến đưa thức ăn, đồ dùng sinh hoạt cho P và buổi tối T thường nằm ngủ tại hành lang trước phòng bệnh của P.

Thời gian từ 7h ngày 06/02/2023 đến 7h ngày 07/02/2023, Lãnh đạo Trại tạm giam - Công an tỉnh Bình Định phân công ca trực để canh giữ Nguyễn Phục P gồm có: Hồ Xuân H - Cán bộ là tổ trưởng; Võ Ngọc H1, Đoàn Đỗ T là chiến sỹ phục vụ có thời hạn trong Công an nhân dân. Thời điểm này trong phòng bệnh chỉ có một mình P nằm điều trị tại giường trong cùng (hướng từ cửa chính nhìn vào) và ca trực dùng còng số 8 (loại xích dài 0.6m) một đầu khóa vào chân trái P, đầu còn lại khóa vào chân giường bằng kim loại để canh giữ. Khoảng 20h ngày 06/02/2023, ông Võ N được đưa vào nằm điều trị chung phòng với P và ông N nằm giường ngoài cùng, ngay sát cửa ra vào, đi theo chăm sóc là bà Lương Thị T (vợ ông N). Lúc này, Hồ Xuân H chia ca trực để canh giữ P, cụ thể: H trực thời gian từ 22h ngày 06/02/2023 đến 01h ngày 07/02/2023, Võ Ngọc H1 trực từ 01h đến 04h ngày 07/02/2023, Đoàn Đỗ T trực từ 04h đến 07h ngày 07/02/2023. Sau đó, H ra ngồi ở hành lang trước phòng bệnh còn H, T trải chiếu nằm dưới nền nhà (giữa 02 giường bệnh, H1 nằm giữa so với T và P). Khoảng 22h ngày 06/01/2023, H nhờ H1, T trực luôn ca của mình rồi đi lên tầng 4 tìm chỗ nghỉ ngơi. T dùng chìa khóa còng số 8, mở còng chân để dẫn P đi vệ sinh rồi đưa P vào lại giường bệnh, khóa còng lại như vị trí ban đầu, đưa chìa khóa còng cho H bỏ vào ngăn bên hông của ba lô Công an (bằng vải, màu xanh lá, 02 dây đeo, nhãn hiệu: Công ty Trách nhiệm hữu hạn vải sợ Khúc Tân) đặt trên đầu chiếu, chỗ H1 nằm. H1, T nằm canh giữ P được một thời gian thì ngủ quên. Khoảng 03h40′ ngày 07/02/2023, P thức dậy thấy H1, T nằm ngủ nên bước chân phải xuống nền nhà, trườn người về chỗ H1 để ba lô, lén lấy chìa khóa còng số 8, tự mở đầu còng vào chân trái của mình ra. Sau đó, P để lại chìa khóa còng như vị trí ban đầu (ngăn bên hông ba lô của H1) rồi đi ra khỏi phòng bệnh. Thấy T đang nằm ngủ ở hành lang, P đến gọi T dậy thì T nói “Ông đi vô lại dùm tui cái”. P không đồng ý, sợ bị bắt giữ lại nên P bỏ đi dọc theo hành lang tầng 3 vô thang máy đi xuống tầng trệt rồi trèo cổng dành cho nhân viên Bệnh viện nhảy ra ngoài đường Nguyễn Huệ. T đi theo tìm P nhưng không thấy nên T gọi cho bạn của P là H2 (chưa rõ lai lịch) đến Bệnh viện để chở giúp T cùng đi tìm P. Lúc này, P đi bộ đến đoạn Ngô Văn Sở - Nguyễn Huệ thì nhờ 01 người phụ nữ bán hàng (không rõ lai lịch) gọi vào số máy T để nói vị trí mình đang đứng. Sau đó, T đi bộ ra gặp được P, bảo P quay lại phòng bệnh nhưng P không đồng ý thì cùng lúc H2 (không rõ lai lịch) điều khiển xe mô tô Exciter (không rõ biển số, đặc điểm) chở Chí (không rõ lai lịch) đến. P hỏi mượn xe mô tô Exciter thì H2 đồng ý. P điều khiển xe chở T đến huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định thì xe bị thủng lốp, hết xăng nên cả 02 thuê phòng tại nhà nghỉ “N B” (không rõ địa chỉ cụ thể) để ngủ và gọi H2 đến lấy xe về. Khoảng 4h ngày 07/02/2023, H1 thức dậy phát hiện P đã bỏ trốn nên gọi T dậy báo sự việc cho H rồi tổ chức đi tìm kiếm. Khoảng 08h ngày 07/02/2023, P và T thuê taxi đến xã Cát Trinh, huyện Phù Cát thuê nhà nghỉ để ở. Đêm 08/02/2023, P và T về lại thị trấn Diêu Trì, huyện Tuy Phước thuê phòng tại nhà nghỉ “H T” để ở. Khoảng 09h ngày 09/02/2023, P đến khu vực Phú Tài thuộc Phường Trần Quang Diệu, TP. Quy Nhơn thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an TP. Quy Nhơn phát hiện, đưa về trụ sở làm việc.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an TP. Quy Nhơn đã thu giữ:

- 01 (Một) còng kim loại có đoạn xích dài 0,6m, mỗi mắc xích kích thước (2,8x2,5)cm, mỗi mắc xích rộng 1cm;

- 02 (Hai) cọng chiếu (cọng 1 dài 15cm, cọng 2 dài 12cm), cả hai cọng bản dẹp 0,2cm, đầu các cọng bị teo nhựa;

- 01 (Một) hộp quẹt màu xanh hiệu “TAICO”, hộp quẹt còn gaz, đã qua sử dụng;

- 01 (Một) balo vải, màu xanh lá, có 02 dây đeo, nhãn hiệu: Công ty trách nhiện hữu hạn vải sợi Khúc Tân, phía sau balo có chữ “H” màu trắng, đã qua sử dụng;

- 01 (Một) chìa khóa còng số 8, bằng kim loại, màu trắng bạc, có chiều dài 4,5cm, đã qua sử dụng.

- Tại bản cáo trạng số 117/CT-VKSQN ngày 30/6/2023 Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn truy tố bị cáo Nguyễn Phục P về tội “Trốn khỏi nơi giam” theo quy định tại khoản 1 Điều 386 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Nguyễn Phục P thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo theo Cáo trạng.

- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 386, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo Nguyễn Phục P từ 18 tháng 24 tháng tù. Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự, đề nghị tổng hợp với hình phạt 14 năm 06 tháng tù của Bản án số 44/2023/HSST ngày 28-3-2023 của Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định đối với bị cáo.

Xử lý vật chứng:

- Đề nghị HĐXX tịch thu tiêu hủy:

+ 02 (Hai) cọng chiếu (cọng 1 dài 15cm, cọng 2 dài 12cm), cả hai cọng bản dẹp 0,2cm, đầu các cọng bị teo nhựa;

+ 01 (Một) hộp quẹt màu xanh hiệu “TAICO”, hộp quẹt còn gaz, đã qua sử dụng;

+ 01 (Một) balo vải, màu xanh lá, có 02 dây đeo, nhãn hiệu: Công ty trách nhiện hữu hạn vải sợi Khúc Tân, phía sau balo có chữ “Hải” màu trắng, đã qua sử dụng;

- Trả lại cho Trại tạm giam Công an tỉnh Bình Định: 01 (Một) còng kim loại có đoạn xích dài 0,6m, mỗi mắc xích kích thước (2,8x2,5)cm, mỗi mắc xích rộng 1cm và 01 (Một) chìa khóa còng số 8, bằng kim loại, màu trắng bạc, có chiều dài 4,5cm, đã qua sử dụng.

Bị cáo tự bào chữa: Bị cáo Nguyễn Phục P thừa nhận hành vi phạm tội, không bào chữa.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo Nguyễn Phục P xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Quy Nhơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vào ngày 03/02/2023, lực lượng chức năng đã bắt bị cáo Nguyễn Phục P theo Quyết định truy nã để bị cáo chấp hành bản án 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Trong thời gian bị giam ở tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bình Định chờ thi hành án, do bị cáo bị bệnh nên Trại tạm giam đã trích xuất và áp giải đưa bị cáo đi điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định. Trong thời gian điều trị tại bệnh viện, do có ý định bỏ trốn từ trước nên rạng sáng ngày 07/02/2023, bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của cán bộ, chiến sỹ Trại tạm giam - Công an tỉnh Bình Định trong việc canh giữ, đã lén lấy chìa khóa, tự mở còng chân bỏ trốn khỏi nơi điều trị thoát khỏi sự quản lý của người có trách nhiệm.

Bị cáo Nguyễn Phục P có đầy đủ sức khỏe, năng lực để nhận thức và điều khiển hành vi của mình nên phải biết việc trốn khỏi nơi giam là vi phạm pháp luật, nhưng xem thường pháp luật, bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của của cán bộ, chiến sỹ được phân công canh giữ bị cáo, đã lén lút bỏ trốn khỏi nơi giam. Do đó, Cáo trạng số 117/CT-VKSQN ngày 30/6/2023 Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn truy tố bị cáo Nguyễn Phục P về tội “Trốn khỏi nơi giam” theo quy định tại khoản 1 Điều 386 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.

Hành vi trốn khỏi nơi giam do bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm sự đúng đắn của hoạt động thi hành án, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương nên phải xử phạt nghiêm, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội. Ngoài ra, tại Bản án số 44/2023/HSST ngày 28-3-2023 của Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xử phạt bị cáo Nguyễn Phục P 14 năm 06 tháng tù, bị cáo Nguyễn Phục P đang chấp hành hình phạt của bản án này, do đó HĐXX áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt của nhiều bản án đối với bị cáo, đồng thời trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam trước đó.

Xét về nhân thân; tình tiết tăng nặng; giảm nhẹ của các bị cáo thì thấy:

4.1 Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt xấu.

4.2 Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 05 tiền án chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này với tình tiết tăng nặng “Tái phạm nguy hiểm”, được quy định tại điểm h khoản 2 Điều 52 Bộ luật hình sự.

4.3 Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, nên xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo an tâm cải tạo tốt.

Xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra hiện thu giữ: 02 cọng chiếu, 01 hộp quẹt ga, 01 ba lô, 01 còng tay số 8 và ổ khóa còng tay. Xét thấy, 02 cộng chiếu và 01 hộp quẹt ga không liên quan đến vụ án, không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy. Đối với ba lô của anh Võ Ngọc H1 (chiến sỹ có trách nhiệm canh, giữ bị cáo) đựng đồ dùng cá nhân, ba lô này có giá trị không lớn anh H1 không yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu hủy. Đối với còng số 8 và chìa khóa còng, đây là công cụ hỗ trợ của Trại tạm giam Công an tỉnh Bình Định nên trả lại cho Trại tạm giam.

Về án phí: Bị cáo bị kết án về tội “Trốn khỏi nơi giam” nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về vấn đề khác:

- Đối với anh Hồ Xuân H, anh Võ Ngọc H, anh Đoàn Đỗ T có hành vi thiếu trách nhiệm trong quá trình quản lý, canh gác bị cáo Nguyễn Phục P để bị cáo bỏ trốn. Tuy nhiên, các anh H, H1, T là cán bộ, chiến sỹ trong lực lượng Công an nhân dân. Hiện cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Quy Nhơn đã có văn bản báo cáo Giám đốc Công an tỉnh Bình Định để xem xét xử lý đối với H, H1, T theo quy định nên HĐXX không xem xét giải quyết.

- Đối với chị Văn Thị Tuyết T không hứa hẹn trước, không xúi giục, giúp sức việc bị cáo P bỏ trốn. Mặc dù, chị T có hành vi che giấu, không tố giác bị cáo bỏ trốn. Tuy nhiên, bị cáo P phạm vào khoản 1 Điều 386 Bộ luật Hình sự nên hành vi của Tr không cấu thành tội phạm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 386, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 2 Điều 52 và Điều 56 Bộ luật hình sự.

Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phục P phạm tội: “Trốn khỏi nơi giam”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Phục P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, tổng hợp với hình phạt 14 (mười bốn) năm 06 (sáu) tháng tù của Bản án số 44/2023/HSST ngày 28-3-2023 của Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của nhiều bản án là 16 (mười sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/02/2023; được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam của bản trước từ ngày 10/9/2021 đến ngày 23/11/2021 và từ ngày 03/02/2023 đến ngày 07/02/2023.

3. Xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 02 (Hai) cọng chiếu (cọng 1 dài 15cm, cọng 2 dài 12cm), cả hai cọng bản dẹp 0,2cm, đầu các cọng bị teo nhựa;

+ 01 (Một) hộp quẹt màu xanh hiệu “TAICO”, hộp quẹt còn gaz, đã qua sử dụng;

+ 01 (Một) balo vải, màu xanh lá, có 02 dây đeo, nhãn hiệu: Công ty trách nhiện hữu hạn vải sợi Khúc Tân, phía sau balo có chữ “H” màu trắng, đã qua sử dụng;

- Trả lại cho Trại tạm giam Công an tỉnh Bình Định:

+ 01 (Một) còng kim loại có đoạn xích dài 0,6m, mỗi mắc xích kích thước (2,8 x 2,5)cm, mỗi mắc xích rộng 1cm;

+ 01 (Một) chìa khóa còng số 8, bằng kim loại, màu trắng bạc, có chiều dài 4,5cm, đã qua sử dụng

Theo biên bản giao, nhận ngày 05/7/2023 của Chi cục thi hành án dân sự TP. Quy Nhơn.

4. Án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Phục P phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

Cỡ chữ