- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mạc Thị N1 cùng đồng phạm phạm tội "Đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: các bị cáo Mạc Thị N1, Phạm Long A1, Vũ Ngọc C1 phạm tội: “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 131/2023/HS-ST Ngày: 21 - 9 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ - TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Chính Nghĩa.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Đăng Triệu.
Bà Đinh Thị Khang.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Huệ - Thư ký tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Quỳnh Loan - Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 9 năm 2023 tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 97/2023/TLST- HS ngày 18 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2023/QĐXXST- HS ngày 06 tháng 9 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Mạc Thị N1; tên gọi khác: không; sinh ngày: xx/xx/19xx, tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: tổx, khu S, phường S1, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; con ông: Mạc Đình T2 (đã chết) và bà: Trần Thị H2 (đã chết); đã ly hôn chồng; có 02 con: con lớn sinh năm 20xx, con nhỏ sinh năm 20xx; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 02/9/2021, bị Công an phường S1, thành phố Cẩm Phả xử phạt vi phạm hànhC1, phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi "Đánh bạc". Chấp hành xong ngày 29/10/2021.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 25/5/2023, tạm giữ đến ngày 01/6/2023, được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 01/6/2023 - có mặt.
2. Họ và tên: Nguyễn Tiến Q1; tên gọi khác: không; sinh ngày 09/6/1983 tại H7ện T1, tỉnh B1; nơi thường trú: tổ 5, khu S, phường S1, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; nghề nghiệp: công nhân Công ty H1; trình độ văn hóa: 12/12; con ông: Nguyễn Tiến Cận (đã chết) và bà: Vũ Thị X1; đã ly hôn vợ; có 02 con: con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 02/9/2021, bị Công an phường S1, thành phố Cẩm Phả xử phạt vi phạm hànhC1, phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi "đánh bạc". Chấp hành xong ngày 29/10/2021.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 25/5/2023, tạm giữ đến ngày 01/6/2023, được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 01/6/2023 - có mặt.
3. Họ và tên: Phạm Long A1; tên gọi khác: không; sinh ngày xx/xx/19xx tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: tổ x, khu S, phường S1, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh ; giới tính: nam; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; con ông: Phạm Văn T3 và bà: Lương Thị H2; có vợ: Bùi Thị Thúy L1, sinh năm 1979; có 03 con: con lớn sinh năm 20xx, con nhỏ sinh năm 20xx; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 25/5/2023, tạm giữ đến ngày 01/6/2023, được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 01/6/2023 - có mặt.
4. Họ và tên: Đinh Sỹ P1; tên gọi khác: không; sinh ngày 18/6/1973, tại H7ện H5, tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: tổ 4, khu 3A, phường T4, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; nghề nghiệp: công nhân Công ty cổ phần vận tải và đưa đón thợ mỏ; trình độ văn hóa: 12/12; con ông: Đinh Văn G2 và bà: Đặng Thị Nghĩ; đã ly hôn vợ; có 02 con: con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 25/5/2023, tạm giữ đến ngày 01/6/2023, được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 01/6/2023 - có mặt.
5. Họ và tên: Vũ Ngọc C1; tên gọi khác: không; sinh ngày xx/x/19xx, tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: tổ 6, khu S3, phường S1, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; nghề nghiệp: công nhân Công ty H1; trình độ văn hóa: 12/12; con ông: Vũ Ngọc H6 (đã chết) và bà: Đặng Thị Q2; có vợ: Nguyễn Thị L2, sinh năm 19xx; có 03 con: con lớn sinh năm 20xx, con nhỏ sinh năm 20xx; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 25/5/2023, tạm giữ đến ngày 01/6/2023, được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 01/6/2023 – có mặt.
Người làm chứng: Hoàng Thùy D2, Vũ Thị X1 (đều vắng mặt không lý do).
Người chứng kiến: Nguyễn Văn K2 (vắng mặt không lý do).
NỘI D2 VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội D2 vụ án được tóm tắt như sau:
Mạc Thị N1 thuê nhà bà Vũ Thị X1 (mẹ đẻ của Nguyễn Tiến Q1) tại tổ 5, khu S, phường S1, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh để ở và mở quán bán hàng nước giải khát. Nguyễn Tiến Q1 thỉnh thoảng đến chơi cùng N1. Phạm Long A1, Đinh Sỹ P1 và Vũ Ngọc C1 đều làm việc, sinh sống gần khu vực nhà N1, biết nhà N1 có đánh bạc nên đến chơi. Khoảng 20 giờ ngày 24/5/2023, Q1 đến nhà N1 uống nước thì gặp nam thanh niên tên gọi là D3 (không rõ lai lịch, địa chỉ) ở đó. Cả ba cùng rủ nhau đánh bạc dưới hình thức đánh “Liêng” được thua bằng tiền tại gian phòng cuối trong nhà. N1 trải chăn hồng giữa nhà và chuẩn bị bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài, để cả nhóm đánh bạc. Cả nhóm thống nhất cách thức chơi như sau: bài cao nhất là “sáp” (3 quân cùng số nhưng khác chất, thứ tự giảm dần từ A, K, Q, J, 10, 9,… đến 2); bài cao thứ hai là “liêng đồng chất, đồng màu” (3 quân có số liền kề nhau, cùng một chất hoặc cùng màu đen hoặc đỏ); bài cao thứ ba là “liêng với dãy số cao” (3 quân có thứ tự liền kề nhau nhưng không cùng chất, liêng Q-K-A cao hơn các liêng khác); bài cao thứ tư là “tranh ảnh” (3 quân đều là các quân J, Q, K nhưng không có thứ tự liền kề nhau); bài cao thứ năm là “tổng 9” (tổng 3 quân có hàng đơn vị là 9, trong đó J/Q/K tính bằng 0 điểm); “liêng hình”, “liêng”, hoặc tổng điểm bằng nhau thì sẽ so sánh chất của quân lớn nhất trong ba quân theo thứ tự A-K-Q-J…-2, rô- cơ- tép- bích. Trước mỗi ván, mỗi người chơi góp vào “gà” 20.000 đồng, người cầm chương (người thắng ván trước) chia cho mỗi người chơi 03 quân bài từ bộ bài tú lơ khơ 52 quân. Sau khi xem bài của mình (không được cho người khác nhìn thấy), ai úp bài sẽ mất tiền đã góp “gà” cho người thắng, người có tổng điểm cao hơn hoặc “sáp”/ “liêng đồng chất”/ “liêng” với dãy số cao/ “tranh ảnh”/ “tổng 9” thì thắng và nhận toàn bộ tiền “gà”; nếu không ai tham gia tố thì người cuối cùng theo vòng sẽ là người thắng và được cầm tiền “gà”. Tiền tố thấp nhất là 20.000 đồng, tiền tố cao nhất là 300.000 đồng, không giới hạn số lần tố. Sau đó, H7 (không rõ lai lịch, địa chỉ), P1, A1 đến tham gia đánh bạc cùng và thống nhất cách thức chơi liêng như trên. Trong lúc đang chơi, N1 nhắn tin rủ Vũ Ngọc C1 đến đánh bạc. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày,C1 đến và tham gia cùng cả nhóm đánh liêng. Tất cả cùng chơi đến khoảng 22 giờ 30 phút thì D3 và H7 đi về trước, còn N1 bị thua hết tiền, nên không chơi nữa, rồi ngồi xem đánh bạc. Đến 00 giờ 10 phút ngày 25/5/2023, khi cả nhóm đang đánh bạc, thì bị Công an thành phố Cẩm Phả phát hiện bắt giữ, lúc này Q1,C1, A1, P1 thu hết tiền trên chiếu bạc cho vào túi quần của mình. Vật chứng thu giữ: 01chiếc chăn bằng vải màu hồng đã qua sử dụng; 01 bộ tú lơ khơ gồm 52 quân bài, đã qua sử dụng; 07 bộ tú lơ khơ chưa qua sử dụng; thu của: P1 2.340.000 đồng trong túi quần bên phải; Q1 4.620.000 đồng ở túi quần sau, bên trái; A1 4.460.000 đồng ở túi quần trước, bên phải;C1 1.290.000 đồng túi quần sau, bên trái.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa Mạc Thị N1, Đinh Sỹ P1, Nguyễn Tiến Q1, Phạm Long A1 và Vũ Ngọc C1 đã khai nhận hành vi phạm tội nêu trên và khai thêm: N1 sử dụng 240.000 đồng đánh bạc, bị thua hết. N1 đã thu tiền “hồ” là tiền chuẩn bị địa điểm đánh bạc và các dụng cụ cho người chơi của H7, P1 mỗi người 100.000 đồng, đã chi tiêu cá nhân hết. Q1 có 4.000.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt quả tang thì Q1 đang thắng. A1 có 5.000.000 đồng để đánh bạc, bị thua.C1 có 1.700.000 đồng đánh bạc, đang thua. P1 có 2.000.000 đồng đánh bạc, khi bị bắt đang thắng.
Như vậy, tổng số tiền các bị can dùng để đánh bạc, bị thu giữ khi bắt quả tang là 12.710.000 đồng.
Người làm chứng Hoàng Thùy D2 khai tại cơ quan điều tra như sau: khoảng 20 giờ ngày 24/5/2023, chị có đến quán bia hơi nhà chị N1 tại tổ 5, khu S, phường S1, thành phố Cẩm Phả ngồi uống bia cùng với bạn. Sau đó, do say xỉn nên chị xin vào ngủ nhờ nhà chị N1. Cùng lúc này có anh Q1 và anh D3 là bạn của chị N1 đến nhà chị N1. Cả ba cùng rủ nhau đánh bạc bằng hình thức đánh “liêng”. Chị thấy chị N1 chuẩn bị bài và trải chăn để ngồi đánh bạc. Chị ngồi xem anh Q1, anh D3, chị N1 đánh bạc được khoảng 15 phút rồi đi ngủ. Chị ngủ được một lúc thì tỉnh dậy thấy có thêm anh H7, anh P1, anh A1, anhC1 đang ngồi đánh bạc với anh Q1, anh D3 và chị N1. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, chị thấy anh H7, anh D3 đi về và chị N1 cũng dừng đánh bạc. Đến khoảng 00 giờ 10 phút ngày 25/5/2023, khi chị đang ngủ thì thấy có lực lượng Công an và kiểm tra và bắt quả tang nhóm người đang đánh bạc. Khi thấy lực lượng Công an thì các anh Q1, P1, A1,C1 đã cất tiền đánh bạc dưới chiếu vào trong người. Quá trình làm việc với cơ quan Công an, chị thấy các anh Q1, P1, A1,C1 tự nguyện bỏ số tiền đánh bạc vừa cất trong người ra. Những người bị bắt khai nhận là Vũ Ngọc C1, sinh năm 1980, trú tại tổ 6, khu S3, phường S1, thành phố Cẩm Phả; Nguyễn Tiến Q1, sinh năm 1983, trú tại tổ 5, khu S, phường S1, thành phố Cẩm Phả; Phạm Long A1, sinh năm 1980, trú tại tổ 3, khu S, phường S1, thành phố Cẩm Phả; Đinh Sỹ P1, sinh năm 1973, trú tại tổ 4, khu 3, phường T4, thành phố Cẩm Phả. Những người này khai nhận với cơ quan Công an đã đánh bạc bằng hình thức đánh “liêng”. Chị chứng kiến cơ quan Công an thu giữ của anh Q1, anhC1, anh P1 và A1 tổng số tiền 12.710.000 đồng là tiền sử dụng đánh bạc và thu giữ tại nền căn phòng ngồi đánh bạc 01 chiếc chăn bằng vải màu hồng đã qua sử dụng để ngồi trong khi đánh bạc, 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài đã qua sử dụng, 07 bộ bài tú lơ khơ chưa qua sử dụng. Khám nghiệm hiện trường thu giữ 01 bộ bài tú lơ khơ đã qua sử dụng.
Lời khai người chứng kiến anh Nguyễn Văn K2 tại cơ quan điều tra có lời khai như sau: khoảng 01 giờ 15 phút ngày 25/5/2023, anh đi ngang qua nhà Mạc Thị N1 tại tổ 5, khu S, phường S1, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh thì được cơ quan Công an mời vào chứng kiến Công an bắt quả tang 04 người đang đánh bạc tại nhà N1. Quá trình chứng kiến, anh thấy những người bị bắt khai nhận toàn bộ hành vi đánh bạc và khai báo về nhân thân gồm Nguyễn Tiến Q1, Đinh Sỹ P1, Vũ Ngọc C1, Phạm Long A1. Tôi cũng được chứng kiến Công an thu giữ tại sàn nhà: 01 chiếc chăn bằng vải bằng vải, màu hồng, đã qua sử dụng, 01 bộ tú nơ khơ gồm 52 quân bài và thu giữ tiền của những người tham gia đánh bạc. Sau đó tôi được mời về cơ quan Công an làm việc.
Bản cáo trạng số 107/CT - VKS-CP ngày 16/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố các bị cáo Mạc Thị N1, Nguyễn Tiến Q1, Phạm Long A1, Đinh Sỹ P1, Vũ Ngọc C1 về tội: “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả đưa ra những chứng cứ, chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo và giữ nguyên quan điểm truy tố như nội D2 cáo trạng. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt các bị cáo Mạc Thị N1 từ 12 (mười hai) tháng tù đến 15 (mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo về tội: “Đánh bạc”, thời gian thử thách từ 24 (hai mươi bốn) tháng đến 30 (ba mươi) tháng; đề nghị xử phạt Nguyễn Tiến Q1 và Phạm Long A1 mỗi bị cáo từ 09 (chín) tháng tù đến 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”, thời gian thử thách từ 18 (mười tám) tháng đến 24 (hai mươi bốn) tháng; căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt các bị cáo Vũ Ngọc C1 và Đinh Sỹ P1 mỗi bị cáo từ 06 (sáu) tháng tù đến 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo về tội: “Đánh bạc”, thời gian thử thách từ 12 (mười hai) tháng đến 18 (mười tám) tháng. Giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường nơi các bị cáo cư trú giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị:
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước tổng số tiền 12.910.000 đồng (mười hai triệu chín trăm mười nghìn đồng) thu giữ của Mạc Thị N1, Nguyễn Tiến Q1, Phạm Long A1, Đinh Sỹ P1, Vũ Ngọc C1.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung thu giữ của Đinh Sỹ P1 vì bị cáo dùng liên lạc với bị cáo Mạc Thị N1 trong hoạt động đánh bạc.
- Tịch thu tiêu hủy 09 (chín) bộ tú lơ khơ, 01 chăn vải màu hồng đã qua sử dụng, 02 sim điện thoại di động gắn với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung thu giữ của Đinh Sỹ P1.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Tiến Q1 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone kèm 01 sim, đã qua sử dụng, không liên quan đến hành vi phạm tội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội D2 vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của các bị cáo: tại Cơ quan điều tra và phiên toà cả 05 bị cáo Mạc Thị N1, Nguyễn Tiến Q1, Phạm Long A1, Đinh Sỹ P1, Vũ Ngọc C1 khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm pháp luật như Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả đã truy tố.
Các bị cáo thừa nhận việc bị khởi tố, truy tố và đưa ra xét xử là đúng, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ, bản ảnh hiện trường; lời khai nhận tội của các bị cáo còn phù hợp với lời khai của những người làm chứng là chị Hoàng Thùy D2 đã chứng kiến toàn bộ quá trình các bị cáo rủ rê và tiến hành đánh bạc; phù hợp với lời khai của người chứng kiến Nguyễn Văn K2 đã chứng kiến việc Công an bắt quả tang các bị cáo đang đánh bạc và chứng kiến việc Công an thu giữ vật chứng gồm chăn bằng vải màu hồng, bộ tú lơ khơ, thu giữ tiền đánh bạc của P1, Q1, A1,C1; phù hợp với các tài liệu và chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án.
Từ những căn cứ trên có đủ cơ sở kết luận: tối ngày 24/5/2023, tại nơi ở của Mạc Thị N1, ở tổ 5, khu S, phường S1, thành phố Cẩm Phả, N1 cùng với Vũ Ngọc C1, Đinh Sỹ P1, Nguyễn Tiến Q1 và Phạm Long A1 có hành vi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh liêng, với tổng số tiền dùng để đánh bạc là 12.710.000 đồng, thì bị bắt quả tang thu giữ vật chứng.
Hành vi của các bị cáo N1, P1, Q1, A1,C1 đã phạm tội: “Đánh bạc”. Tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới trật tự công cộng nên cần áp dụng hình phạt tương xứng để đảm bảo tính răn đe.
Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án thấy rằng: các bị cáo tham gia đánh bạc với vai trò đồng phạm giản đơn. Các bị cáo Q1, P1,C1, A1 đều ở gần nhà N1, biết tại nhà N1 có đánh bạc nên đến chơi, uống nước. Khi gặp, cả nhóm rủ nhau đánh bạc tự phát, không có sự bàn bạc từ trước. Trong khi đánh bạc, A1 bỏ ra 5.000.000 đồng, Q1 bỏ ra 4.000.000 đồng, P1 bỏ ra 2.000.000 đồng,C1 bỏ ra 1.700.000 đồng, N1 chỉ bỏ ra 240.000 đồng nhưng bị cáo N1 là người chuẩn bị địa điểm, dụng cụ để đánh bạc nên vai trò của bị cáo N1 được đánh giá cao nhất. Bị cáo Nguyễn Tiến Q1 tham gia đánh bạc ngay từ đầu cho đến khi bị bắt giữ nên giữ vai trò ngang bằng với bị cáo A1. Các bị cáo Đinh Sỹ P1 và Vũ Ngọc C1 được đánh giá vai trò như nhau.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: cả 05 bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại cơ quan điều tra và tại phiên toà, các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên các bị cáo được xem xét giảm nhẹ hình phạt theo quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo Đinh Sỹ P1 có bố đẻ là ông Đinh Văn G2 được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng 3, có mẹ đẻ là bà Đặng Thị Nghĩ được tặng thưởng H7 chương kháng chiến hạng Nhất trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Bị cáo Nguyễn Tiến Q1 có bố đẻ là ông Nguyễn Tiến Cận được tặng thưởng H7 chương Giải phóng trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước nên hai bị cáo P1 và Q1 được giảm nhẹ hình phạt theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét cả 05 bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội. Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng án treo theo quy định tại khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: xét các bị cáo đã thực sự ăn năn hối cải và là lao độngC1 trong gia đình nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Về vật chứng vụ án: số tiền 2.340.000 đồng (hai triệu ba trăm bốn mươi nghìn đồng) thu giữ của Đinh Sỹ P1, 4.620.000 đồng (bốn triệu sáu trăm hai mươi nghìn đồng) thu giữ của Nguyễn Tiến Q1, 4.460.000 đồng (bốn triệu bốn trăm sáu mươi nghìn đồng) thu giữ của Phạm Long A1, 1.290.000 đồng (một triệu hai trăm chín mươi nghìn đồng) thu giữ của Vũ Ngọc C1, 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) của Mạc Thị N1 nộp lại đều là tiền sử dụng trong hoạt động đánh bạc nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung thu giữ của Đinh Sỹ P1, bị cáo dùng liên lạc với bị cáo Mạc Thị N1 trong hoạt động đánh bạc nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- Tịch thu tiêu hủy vật chứng không có giá trị sử dụng gồm: 09 (chín) bộ tú lơ khơ, 01 chăn vải màu hồng đã qua sử dụng, 02 sim điện thoại di động gắn với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung thu giữ của Đinh Sỹ P1.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Tiến Q1 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone kèm 01 sim không liên quan đến hành vi phạm tội.
Về biện pháp tư pháp: hủy bỏ các “Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú” số 117, 118, 119, 120, 121/2023/HSST/LCĐKNCT ngày 19/8/2023 và “Quyết định tạm hoãn xuất cảnh” số: 70/2023/HSST/QĐ ngày 18/7/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả.
Về án phí: các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Đối với các đối tượng tên H7, D3 theo lời khai của các bị cáo cùng tham gia đánh bạc, nhưng không rõ lai lịch, địa chỉ cụ thể, nên không có căn cứ xử lý, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.
Chị Vũ Thị X1 là chủ nhà không biết việc Mạc Thị N1 thuê nhà để cùng người khác đánh bạc ở đó nên không đề cập xử lý.
Các bị cáo còn khai đã tham gia đánh bạc tại nơi ở của Mạc Thị N1, nhưng do không nhớ cụ thể những người tham gia đánh bạc và số tiền đánh bạc, nên không đề cập xử lý.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: các bị cáo Mạc Thị N1, Phạm Long A1, Vũ Ngọc C1 phạm tội: “Đánh bạc”.
Xử phạt: Mạc Thị N1 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt: Phạm Long A1 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt: Vũ Ngọc C1 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điêu 17; Điều 58; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tiến Q1 và Đinh Sỹ P1 phạm tội: “Đánh bạc”.
Xử phạt: Nguyễn Tiến Q1 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt: Đinh Sỹ P1 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo Mạc Thị N1, Phạm Long A1, Vũ Ngọc C1, Nguyễn Tiến Q1 cho Uỷ ban nhân dân phường S1, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo N1, A1,C1, Q1 có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường S1 trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo N1, A1,C1, Q1.
Giao bị cáo Đinh Sỹ P1 cho Uỷ ban nhân dân phường T4, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo P1 có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường T4 trong việc giám sát, giáo dục bị cáo P1.
Trong trường hợp các bị cáo Mạc Thị N1, Phạm Long A1, Vũ Ngọc C1, Nguyễn Tiến Q1, Đinh Sỹ P1 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Áp dụng điểm d khoản 1, khoản 2 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự;
Hủy bỏ các “Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú” số: 117, 118, 119, 120, 121/2023/HSST/LCĐKNCT ngày 19/8/2023 và các “Quyết định tạm hoãn xuất cảnh” số: 100, 101, 102, 103, 104/2023/HSST/QĐ ngày 19/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả.
Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 2.340.000 đồng (hai triệu ba trăm bốn mươi nghìn đồng) thu giữ của Đinh Sỹ P1, 4.620.000 đồng (bốn triệu sáu trăm hai mươi nghìn đồng) thu giữ của Nguyễn Tiến Q1, 4.460.000 đồng (bốn triệu bốn trăm sáu mươi nghìn đồng) thu giữ của Phạm Long A1, 1.290.000 đồng (một triệu hai trăm chín mươi nghìn đồng) thu giữ của Vũ Ngọc C1, 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) thu giữ của Mạc Thị N1. Tổng số tiền bị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước là 12.910.000 đồng (mười hai triệu chín trăm mười nghìn đồng).
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung, màu vàng, đã qua sử dụng, thu giữ của Đinh Sỹ P1.
- Tịch thu tiêu hủy 09 (chín) bộ tú lơ khơ, mỗi bộ có 52 quân bài, 01 chăn vải màu hồng đã qua sử dụng, 02 sim điện thoại di động gắn với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung thu giữ của Đinh Sỹ P1 có các dãy số: 8984, 04800, 00650, 97430 và dãy số 8984, 04800, 00650, 97432.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Tiến Q1 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng kèm 01 sim, đã qua sử dụng.
Tình trạng vật chứng được xử lý có trong biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: 157/BB-THA ngày 24 tháng 8 năm 2023 tại chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả.
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: buộc các bị cáo Mạc Thị N1, Vũ Ngọc C1, Đinh Sỹ P1, Nguyễn Tiến Q1 và Phạm Long A1, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Áp dụng khoản 1, khoản 4 Điều 331; khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND TP Cẩm Phả; - CCTHADS TP Cẩm Phả; - CQTHAHS CA TP Cẩm Phả; - CQCSĐT CA TP Cẩm Phả; - Bị cáo; - Lưu HS-VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trần Chính Nghĩa |