vanban.org

Bản án 131/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Chu Lan H và anh Lê Văn T được ly hôn.

Về con chung: Giao hai con chung Lê Hải A, sinh ngày 28 tháng 11 năm 2007 và Lê Minh T, sinh ngày 10 tháng 11 năm 2013 cho chị Chu Lan H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có q… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chu Lan Hương - Lê Văn Tiến"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Chu Lan H và anh Lê Văn T được ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỦY NGUYÊN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 131/2023/HNGĐ-ST
Ngày 28-6-2023
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Ngọc Dũng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Đông

Bà Bùi Thuý Mở

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Ngân - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 80/TLST- HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2023 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2023/QĐXX-HNGĐ ngày 08 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Chu Lan H, sinh năm 1978; nơi cư trú: Xóm 3B, xã K, huyện Y, tỉnh N; vắng mặt (có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Lê Văn T, sinh năm 1980; nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã L, huyện T, thành phố H; hiện đang chấp hành hình phạt tù tại Đội 51, phân trại số 1, Trại Giam số 3, Cục 10, Bộ Công An; địa chỉ: Xã N, huyện T, tỉnh N; vắng mặt (có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 08 tháng 02 năm 2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, chị Chu Lan H (nguyên đơn) khai:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Chu Lan H và anh Lê Văn T xây dựng gia đình trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, thành phố H theo Giấy chứng nhận kết hôn số 22 ngày 13 tháng 3 năm 2007. Quá trình chung sống, vợ chồng thường phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, tính cách và lối sống dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau và anh T thường vi phạm pháp luật. Hiện anh T đang chấp hành hình phạt tù tại Đội 51, phân trại số 1, Trại Giam số 3, Cục 10, Bộ Công An. Nay chị H nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc nên chị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Lê Văn T.

Về con chung: Chị Chu Lan H khai chị và anh Lê Văn T có hai con chung là Lê Hải A, sinh ngày 28 tháng 11 năm 2007 và Lê Minh T, sinh ngày 10 tháng 11 năm 2013. Hiện chị H đang trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung. Ly hôn, chị Chu Lan H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Chu Lan H không yêu cầu anh Lê Văn T phải đóng góp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Chu Lan H không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 04/4/2023, bị đơn anh Lê Văn T khai:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Văn T và chị Chu Lan H xây dựng gia đình trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, thành phố H theo Giấy chứng nhận kết hôn số 22 ngày 13 tháng 3 năm 2007. Quá trình chung sống, vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc và không có mâu thuẫn. Tuy nhiên, do hiện nay anh T phải chấp hành hình phạt tù không ở nhà để chăm lo vợ con, thời gian anh còn phải chấp hành là 19 tháng nữa nên nay chị H có đơn xin ly hôn với anh thì quan điểm của anh là đồng ý và đề nghị Toà án giải quyết cho anh và chị H được ly hôn.

Về con chung: Anh Lê Văn T xã nhận anh và chị Chu Lan H có hai con chung là Lê Hải A, sinh ngày 28 tháng 11 năm 2007 và Lê Minh T, sinh ngày 10 tháng 11 năm 2013. Hiện hai con chung đang do chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Ly hôn, anh T đồng ý để chị Chu Lan H trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Do anh T đang phải chấp hành hình phạt tù nên không có điều kiện để cấp dưỡng nuôi con nên anh T xin được tạm hoãn.

Về tài sản chung: Anh Lê Văn T khai anh và chị H không có tài sản chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án như sau:

Thẩm phán đã xác định đúng về thẩm quyền giải quyết vụ án; về quan hệ pháp luật tranh chấp; về tư cách tham gia tố tụng; về việc thu thập chứng cứ; về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện Kiểm sát; việc cấp, tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự; việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký và đương sự tại phiên tòa đã được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 71 và Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72 và Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự

Về việc giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị H được ly hôn với anh T. Về con chung: Giao hai con chung là Lê Hải A, sinh ngày 28 tháng 11 năm 2007 và Lê Minh T, sinh ngày 10 tháng 11 năm 2013 cho chị H được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung và tài sản chung: Chị H và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Kiểm sát viên không đề cập giải quyết trong vụ án này. Về nghĩa vụ nộp án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Chu Lan H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp Hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn. Bị đơn là anh Lê Văn T có nơi cư trú tại xã Lưu Kiếm, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Nguyên đơn và bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị H và anh T.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Chu Lan H và anh Lê Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tuân theo các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình nên là hôn nhân hợp pháp. Tài liệu điều tra xác minh thể hiện quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong sinh hoạt. Hiện anh T đang chấp hành hình phạt tù tại Trại Giam số 3, Cục 10, Bộ Công An nên không chăm lo cho vợ con.. Hội đồng xét xử xét: Mâu thuẫn giữa chị H và anh T đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng không có kết quả; mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình mà ở đó vợ chồng phải yêu thương, tôn trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt; phải được xây dựng trên nền tảng tình cảm, sự nỗ lực từ hai phía của cả vợ và chồng. Trên thực tế, quan hệ hôn nhân của chị H và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, do đó mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, xét yêu cầu ly hôn của chị H là có căn cứ, cần chấp nhận theo quy định tại Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị Chu Lan H và anh Lê Văn T có hai con chung là Lê Hải A, sinh ngày 28 tháng 11 năm 2007 và Lê Minh T, sinh ngày 10 tháng 11 năm 2013. Ly hôn, chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung cả hai con chung và anh T cũng đồng ý giao cả con chung cho chị H nuôi dưỡng; cả hai con chung đều có nguyện vọng được ở với mẹ. Tài liệu điều tra xác minh thể hiện chị H là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng hai con chung và vẫn bảo đảm tốt về mọi mặt, đồng thời anh T hiện đang chấp hành hình phạt tù. Vì vậy, cần giao hai con chung Lê Hải A và Lê Minh T cho chị Chu Lan H được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở là phù hợp với Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình và phù hợp với nguyện vọng của con chung.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Chu Lan H và anh Lê Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án này.

Về tài sản chung: Chị Chu Lan H và anh Lê Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án này.

Về án phí: Chị Chu Lan H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Chị Chu Lan H và anh Lê Văn T được quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 và khoản 3 Điều 228; Điều 328 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14; xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Chu Lan H và anh Lê Văn T được ly hôn.

2. Về con chung: Giao hai con chung Lê Hải A, sinh ngày 28 tháng 11 năm 2007 và Lê Minh T, sinh ngày 10 tháng 11 năm 2013 cho chị Chu Lan H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi con.

3. Về án phí: Chị Chu Lan H phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008145 ngày 09 tháng 3 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Chị Chu Lan H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo đối với bản án: Chị Chu Lan H và anh Lê Văn T vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ