- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận ông Lê Minh K và bà Đặng Ngọc H là vợ chồng.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 131/2023/HNGĐ-ST Ngày: 29-6-2023 V/v Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bình.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Việt Khái.
Bà Nguyễn Kim Huệ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Tú là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
Ngày 29 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 162/2023/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2023 về việc “xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 269/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lê Minh K; sinh năm 1960 (xin vắng mặt);
Địa chỉ cư trú: K 4, thị trấn CĐV, huyện PT, tỉnh CM.
- Bị đơn: Bà Đặng Ngọc H; sinh năm 1972 (Vắng mặt);
Địa chỉ cư trú: K 4, thị trấn CĐV, huyện PT, tỉnh CM.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện đề ngày 20 tháng 4 năm 2023 và cùng các tài liệu chứng cứ kèm theo, nguyên đơn ông Lê Minh K trình bày:
Về hôn nhân: Vào năm 1989, ông và bà Đặng Ngọc H sống chung với nhau như vợ chồng nhưng không có đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Thời gian đầu chung sống vợ chồng rất hạnh phúc, nhưng thời gian gần đây vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, vợ chồng thường cải vã nhau. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng nên vợ chồng đã không còn sống chung với nhau từ năm 2015 đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, ông K yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Đặng Ngọc H.
Về con chung: Quá trình sống chung vợ chồng có 01 người con chung tên Lê Khắc D, sinh năm 1990. Hiện Lê Khắc D đã trưởng thành và có khả năng lao động nuôi sống bản thân nên không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn bà Đặng Ngọc H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng nhưng bà Đặng Ngọc H vắng mặt và không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Nội dung tranh chấp giữa ông Lê Minh K được xác định là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bà Đặng Ngọc H là bị đơn có nơi cư trú tại huyện PT, tỉnh CM nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau, theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau thụ lý, giải quyết vụ án là đúng theo trình tự, thủ tục tố tụng.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự:
- Ông Lê Minh K có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, theo quy định tại khoản 1 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt ông Lê Minh K.
- Bà Đặng Ngọc H là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bà Đặng Ngọc H.
[3] Về hôn nhân: Ông Lê Minh K và bà Đặng Ngọc H sống chung với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn. Ông K xác định quá trình sống chung với nhau, vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông K được ly hôn với bà H. Đối với và Đặng Ngọc H, Tòa án đã thông báo thụ lý vụ án, thông báo hòa giải và triệu tập hợp lệ bà Đặng Ngọc H nhiều lần để tham gia hòa giải và xét xử nhưng bà H vắng mặt, không tham gia hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng và không có ý kiến đối với yêu cầu của ông Lê Minh K. Ông Lê Minh K và bà Đặng Ngọc H sống chung với nhau như vợ chồng đến nay vẫn chưa đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, nên hôn nhân giữa ông Lê Minh K và bà Đặng Ngọc H đã vi phạm quy định về đăng ký kết hôn. Căn cứ quy định tại các Điều 9, 14, 53 của Luật hôn nhân và gia đình thì hôn nhân giữa ông Lê Minh K và bà Đặng Ngọc H không được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Ông Lê Minh K và bà Đặng Ngọc H không được công nhận là vợ chồng.
[4] Về con chung: Có có 01 người con chung tên Lê Khắc D, sinh năm 1990. Hiện Lê Khắc D đã trưởng thành và có khả năng lao động nuôi sống bản thân, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Án phí sơ thẩm: Ông Lê Minh K là người cao tuổi và có đơn đề nghị miễn tiền án phí. Do đó, ông Lê Minh K thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định tại đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 28, 35, 39, 147 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 9, 14, 15, 53 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Không công nhận ông Lê Minh K và bà Đặng Ngọc H là vợ chồng.
2. Về án phí: Án phí sơ thẩm hôn nhân gia đình là 300.000 đồng, ông Lê Minh K phải chịu. Ông Lê Minh K thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định tại đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nên ông K không phải chịu án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Ông Lê Minh K và bà Đặng Ngọc H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện Phú Tân; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ, văn thư. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Bình |