- Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "NĐ: Lương Văn T - Nguyễn Văn N"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 131/2023/DS-PT Ngày 30 - 3 - 2023 V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trung Thành.
Các Thẩm phán:
Ông Lê Thành Tôn
Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Diễm Hương, Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Ông Phan Trung Quốc, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 30 tháng 3 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 441/2022/TLPT-DS ngày 29 tháng 12 năm 2022, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 67/2022/DS-ST ngày 18 tháng 10 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện H bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 106/2023/QĐ-PT ngày 21 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Lương Văn T, sinh năm 1951.
Địa chỉ: p 2, x 1, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Lương Văn T: Anh Hồ Thanh H, sinh năm 1983. Địa chỉ: p A, xã B, huyện H, tỉnh Đồng Tháp. Chỗ ở hiện nay: Khóm 1, thị trấn Th, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1965.
Địa chỉ: Kh m An L i, phư ng A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
3. Ngư i c quyền l i, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1951;
3.2. Chị Lương Thị Mỹ H, sinh năm 1992;
3.3. Anh Nguyễn Hữu Kh, sinh năm: 1991;
3.4. Chị Lương Thị L, sinh năm 1985.
C ng địa chỉ: p 2, x 1, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.
3.5. Chị Phạm Thị Cẩm L, sinh năm 1995.
Địa chỉ: p 2, xã 1, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.
3. Ngư i kháng cáo: Ông Lương Văn T, anh Nguyễn Văn N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn ông Lương Văn T trình bày: Ông T cất nhà vào ngày 26/11/2016, thuê th tên Nguyễn Văn Ch, giá thuê 25.000.000 đồng, khi thanh toán ông T cho thêm 2.000.000 đồng, tổng cộng là 27.000.000 đồng, ông T trực tiếp trả tiền cho ông Ch, trước khi xây dựng căn nhà c xin phép tại x và UBND x Thư ng Phước 1 c cấp cho ông T giấy đư c phép xây dựng nhưng ngày tháng năm xin cấp giấy phép xây dựng và đư c cấp giấy phép xây dựng nhà không nhớ, sẽ cung cấp cho Tòa án các giấy t này sau. Khi xây xong thì ông T cho chị Lương Thị L ở nh trong căn nhà, việc cho ở không c làm giấy, khoảng hai tuần sau ông N về ở chung với chị L, ông T không phản đối việc ông N về ở. Tất cả nội thất trong căn nhà do ông N mua để vào sử dụng, ông T không c mua nội thất nào cả. Vào tháng 4 năm 2018 giữa ông N và chị L có mâu thuẫn đến khoảng tháng 6 tháng 7 thì chị L bỏ nhà đi nên chỉ còn ông N ở trong căn nhà này, đến năm 2019 thì chị Loan về ở trong căn nhà với ông N. Ngày 18/9/2019 thì ông T khởi kiện ông N đến UBND x Thư ng Phước 1 và kéo dài tranh chấp đến nay. Ông Lương Văn T yêu cầu ông Nguyễn Văn N di d i tòan bộ tài sản trong nhà trả lại căn nhà cấp 4, chiều ngang 05m, chiều dài 12m, diện tích căn nhà 60m2, gắn liền trên phần đất diện tích 91m2, thuộc thửa đất số 17, t bản đồ số 23 đất tọa lạc tại x Thư ng Phước 1, huyện H, tỉnh Đồng Tháp do ông Lương Văn T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Đối với yêu cầu phản tố của ông N thì anh c nhận đư c Thông báo về việc thụ lý yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn N, anh đại diện cho ông T không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của ông N vì: Ông T mua đất c nguồn gốc rõ ràng, ông T đư c cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng quy định pháp luật, sau đ ông T xin giấy phép và cất căn nhà cấp 4 cho chị L ở nh , ông N chỉ là ngư i đư c chị L cho ở nh và ông N cũng không đưa ra đư c chứng cứ, chứng minh là đất và nhà của ông N.
Do, nhà và đất là của ông T nên ông T không đồng ý nhận số tiền 100.000.000đ của ông N. Đồng th i yêu cầu bát toàn bộ yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn N và chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông T.
Ngày 15/8/2022, anh Hồ Thanh H khai: Trong suốt quá trình xây dựng căn nhà thì tổng chi phí với số tiền 200.000.000đ. Tất cả ông T trả, ngoài ra không c ai khác trả số tiền nào. Tiền công th 27.000.000đ, tiền vật liệu xây dựng 173.000.000đ cũng do ông T trả cho cửa hàng vật liệu xây dựng.
Tại t tư ng trình ngày 09/11/2020, ông Lương Văn T khai: B nền ngang khoảng 05m, dài 04m, diện tích 20m2 tiếp giáp phía sau nhà do ông N kêu th tên Th làm, ông đồng ý trả giá trị phần xây dựng này cho ông N. Phần la phông trong căn nhà do ông N kêu ngư i làm giá bao nhiêu không biết, ông đồng ý trả giá trị làm la phông cho ông N. Cửa kéo kiểu Đài Loan do ông N mua, ông đồng ý trả giá trị cửa kéo cho ông N. Hàng rào và cửa sắt bao quanh sân nhà là do ông N kêu ngư i làm, ông đồng ý trả giá trị lại cho ông N. Trong trư ng h p ông N không đồng ý nhận giá trị các tài sản vừa nêu thì ông đồng ý cho ông N tháo dỡ và di d i đi.
Tại biên bản lấy l i khai của đương sự ngày 10/8/2020, ông Lương Văn T khai: Nguồn gốc phần diện tích đất là do ông Lương Văn T nhận chuyển như ng của ông Đỗ Minh D, sinh năm 1965, địa chỉ: ấp 3, x 1, huyện H, tỉnh Đồng Tháp, nhận chuyển như ng vào năm 2016, giá chuyển như ng 100.000.000đ. Sau khi nhận chuyển như ng thì ông T đư c cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 08/11/2016. Ngày 26/11/2016 âm lịch ông T thuê th xây dựng căn nhà cấp 4 tên Hồ Văn Ch, sinh năm 1979, địa chỉ: ấp 1, x 2, huyện H, tỉnh Đồng Tháp, giá thuê trọn g i là 25.000.000đ, khi làm xong c kêu th làm thêm phần sàn nước nên trả thêm 3.000.000đ, xây dựng khoảng hơn một tháng thì xong căn nhà. Nhà chưa đư c đăng ký quyền sở hữu nhà. Vật liệu xây dựng căn nhà mua tại cửa hàng vật liệu xây dựng 5 Bổ, địa chỉ: kh m 1, thị trấn Th, huyện H, tỉnh Đồng Tháp. Tổng chi phí vật liệu xây dựng hơn 90.000.000đ. Sau khi xây dựng xong, ông T giao cho chị L ở, việc giao cho chị L ở chỉ n i miệng, không làm giấy và chỉ cho ở tạm, không phải cho luôn. Lệ ở chung với ông N, khi đ hai ngư i vẫn còn mối quan hệ sống như v chồng, không phải v chồng và ông cũng đồng ý cho ông N c ng ở. Tiền mua đất là của v chồng ông, tiền căn nhà cũng của v chồng ông, riêng phần phát sinh thêm 3.000.000 ông N trực tiếp trả cho th , nội thất thì do ông N và chị L tự mua và tự sử dụng, ông không c mua gì để vào nhà. Nay ông Nêu cầu ông N di d i tất cả nội thất trả lại diện tích đất và căn nhà cho ông. Khi ông N và chị L mâu thuẫn thì Lệ mang vào nhà của ông để gửi ông một phần, một phần thì ông N cho, các món gì thì không nhớ, nhưng các m n đồ thì đúng như biên bản làm việc của Công an x Thư ng Phước 1.
Ông Nguyễn Văn N, trình bày: Diện tích đất nền nhà là do ông đưa tiền cho chị Lương Thị L là con gái của ông T mua của ông D, ngụ tại ấp 3, x Thư ng Phước 1, huyện H, tỉnh Đồng Tháp. Giá mua nền là 100.000.000đ, mua vào năm 2015. Việc đất ông D c giấy hay chưa thì ông không biết, chỉ biết đưa tiền cho chị L mua và ông đồng ý để chị L đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau một th i gian thì ông hỏi chị L thì chị L nói do ông T dành đứng tên nên ông T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi mua nền khoảng 5-10 ngày thì cất nhà, ông là ngư i bơm cát cho nền nhà, th cất nhà là ông 7 Hiêu, do ông T thuê, giá thuê cất toàn bộ căn nhà là 33.000.000đ, do chị L đưa tiền cho ông T trả. Th i gian cất nhà không nhớ, chỉ nhớ khoảng 01 tháng là xong căn nhà. Sau khi cất nhà xong thì ông và chị L ở c ng trong căn nhà này. Hiện nay căn nhà chưa đư c cấp giấy. Chi phí vật liệu xây dựng thì ông không biết vì ông chỉ đưa tiền cho chị L để trả nên không biết chính xác là bao nhiêu. Nội thất trong nhà do ông mua để ông và chị L c ng sử dụng gồm: 01 Tủ lạnh khoảng 100 lit hiệu gì không nhớ; 01 máy lạnh không nhớ hiệu; 01 bộ bàn gỗ tay rồng; 01 giá võng bằng gỗ; 01 cái giư ng gỗ; 01 bàn kiếng; 01 màn hình 30inch; 01 tivi khoảng 70 inch hiệu không nhớ ông đ đem về nhà của ông; 04 tủ nhôm (Trong đ c 02 tủ chén, 01 tủ quần áo và 01 tủ th ); 01 máy giặt không nhớ hiệu, ông đ cho ngư i quen; 01 máy nước n ng trong nhà tắm không biết hiệu; 01 máy n ng lạnh để nước uống; 01 tủ mũ, ông đ cho ngư i quen; 01 két sắt; 01 tủ ông địa, 01 tư ng phật Di Lạc bằng gỗ, 01 bộ tư ng Phước Lộc Thọ bằng gỗ; 01 bàn tròn bằng gỗ của Nhật; 02 cá gỗ; 01 tư ng ngựa bằng sắt; 02 tư ng đại bàng bằng gỗ, 02 bình hoa bằng gỗ; 03 bồn rư u; tranh treo tư ng, đồng hồ treo tư ng, 01 máy nén bơm nước rửa xe ngoài các m n ông đ đem về và cho ngư i quen thì còn lại do chị Loan đang quản lý sử dụng. Trong số này gia đình ông T đ lấy về nhà ông T gồm: 02 nồi cơm điện không biết hiệu khoảng 1,5l; 02 máy xay sinh tố; 01 máy ép cam; Cặp gối ngủ, 01 cái mền, 01 cái m ng, nồi, chén, chảo, dao, kéo; 01 xích đu bằng Inox, 01 chiếc xe hiệu SH More, 02 cái quạt đứng, 02 cái ghế quay loại lớn, 01 máy quạt phun sương, 01 cái quạt treo tư ng, 01 tư ng đại bàng bằng gỗ, 01 chai dầu thơm không biết hiệu giá mua 2.700.000đ, chị L nhận của ông 1.500.000.000đ, 01 khung Inox hai cầu để phơi quần áo, ông Nêu cầu gia đình ông T trả lại cho ông.
Ông Nguyễn Văn N yêu cầu hộ ông Lương Văn T giao trả lại cho ông phần đất c diện tích 91m2, thuộc thửa số 17, t bản đồ 23, tọa lạc tại x Thư ng Phước 1, huyện H, tỉnh Đồng Tháp cho ông đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và phần đất này do hộ ông Lương Văn T đứng tên nên ông thống nhất trả cho hộ ông T 100.000.000đ và yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng đất cho ông.
Tại giấy xác nhận, ngư i làm chứng Lê Thanh H, trình bày: Anh c bơm cát cho ông N tại ấp 3, x Thư ng Phước 1, huyện H hai đ t với số lư ng 04 ghe cát, mỗi ghe 7.000.000đ và ông N cho thêm anh 1.000.000đ nên anh nhận của ông N tổng cộng là 29.000.000đ.
Tại t tư ng trình ngày 17/3/2022, ngư i làm chứng Nguyễn Văn T trình bày: Anh c đ ng trần, la phông cho ông N tại căn nhà ông N ở thuộc x Thư ng Phước 1, huyện H với giá từ 140.000đ đến 150.000 đ/m2 và tổng cộng căn nhà ông N khoảng 11.000.000đ tiền đ ng la phông và công làm điện gia dụng là 3.000.000đ, khi làm xong ông N đưa tiền cho anh, ngoài ra không còn làm gì khác.
Tại biên bản lấy l i khai của ngư i làm chứng ngày 17/3/2022, anh Lê Văn H khai: Anh đư c ông N thuê làm cửa Đài Loan hàng rào sắt của căn nhà đang tranh chấp hiện nay phía sau và mái tol phía sau với tổng chi phí khoảng 41.000.000đ làm vào năm 2016.
Tại biên bản lấy l i khai của ngư i làm chứng ngày 14/6/2021, chị Nguyễn Thị H khai: Chị là chủ cửa hàng vật liệu xây dựng Năm Bổ. Th i gian trước đây c bán vật liệu xây dựng để cất nhà cho chị L theo h a đơn ngày 26/11/2016 thì chị nhớ phần lớn chị L là ngư i trả tiền vật liệu xây dựng nhưng cụ thể bao nhiêu không nhớ chính xác, ông N cũng c ghé trả tiền nhưng không nhớ chính xác còn ông T c trả không chị không nhớ.
Tại biên bản lấy l i khai của ngư i làm chứng ngày 14/6/2021, anh Hồ Văn Thuận khai: Anh c nhận làm thêm cái bếp căn nhà đang tranh chấp, do chị L thuê anh, khi làm xong thì chị L và ông N c ng trả tiền công 3.000.000đ, riêng ông N cho thêm 500.000đ.
Tại biên bản lấy l i khai của ngư i làm chứng ngày 14/6/2021, ông Nguyễn Thanh S khai: Th i gian không nhớ, cô Lệ c thuê ông sửa căn nhà của ông T thì ông và ông Ch c ng làm với giá 25.000.000đ, khi xong ông T trả tiền. Sau đ vào năm 2016 cô L thuê ông cùng ông Ch xây dựng căn nhà đang tranh chấp với giá thuê 33.000.000đ, nhận tiền công hai lần, lần đầu do anh Ch nhận, ông không trực tiếp nhận tiền, việc xây dựng c bơm cát do ông N thuê còn giá không biết. Ngoài căn nhà ông c làm thêm miếng đal phía sau và sơn nhà trước thì ông N trả công cho ông 3.000.000đ.
Tại biên bản lấy l i khai của ngư i làm chứng ngày 14/6/2021, anh Hồ Văn Ch khai: Ông T cha chị L thuê anh cất căn nhà cấp 4, m o toàn bộ với giá 35.000.000đ, anh nhận l i và thuê th c ng anh xây dựng căn nhà, khi hoàn thành căn nhà thì đầu tiên do chị L trực tiếp đưa tiền cho anh với số tiền khoảng 15.000.000đ, trước khi chị L đưa tiền cho anh thì anh thấy ông N cầm tiền đưa cho chị L nhưng bao nhiêu thì không biết, liền sau khi chị L nhận tiền từ ông N thì chị L đưa cho anh khoảng 15.000.000đ, lần đưa tiền này tạm ứng trước, còn lại khi xong công trình mới đưa hết. Th i gian hoàn thành công trình thì do ông T trực tiếp đưa cho anh phần còn lại 20.000.000đ. Song song với việc cất căn nhà thì ông N và chị L c kêu anh đỗ bê tông sân nhà và làm sàn nước c ng nhà vệ sinh ngoài căn nhà với số tiền 2.000.000đ do ông N đưa cho anh. Công việc của anh là xây vách và l p tol, ngoài ra không còn làm gì khác.
* Tại Quyết định bản án sơ thẩm số 67/2022/DS–ST, ngày 18/10/2022 của Tòa án nhân dân huyện H đ tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lương Văn T.
2. Buộc ông Nguyễn Văn N di d i các tài sản nội thất độc lập với căn nhà và hàng rào sắt quanh căn nhà đi nơi khác để giao lại căn nhà 60m2 gắn liền diện tích đất 91m2 do ông Lương Văn T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lương Văn T quản lý sử dụng.
3. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn N di d i tòan bộ tài sản trong nhà trả lại căn nhà cấp 4, chiều ngang 05m, chiều dài 12m, diện tích căn nhà 60m2 vì căn nhà này do ông Nguyễn Văn N và chị Lương Thị L đầu tư chi phí xây dựng, ông Lương Văn T không cung cấp chi phí xây dựng căn nhà.
4. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn N. Buộc ông Lương Văn T giao giá trị các m n đồ của ông N do ông T quản lý với số tiền 26.000.000đ (Hai mươi sáu triệu đồng).
Buộc ông Lương Văn T c nghĩa vụ giao giá trị căn nhà, giá trị phần nhà sau và giá các m n đồ của ông N do ông T quản lý, Tổng cộng ông Lương Văn T trả lại giá trị tất cả cho ông Nguyễn Văn N với số tiền 176.000.000đ (Một trăm bảy mươi sáu triệu đồng).
5. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn N về việc yêu cầu hộ ông Lương Văn T giao trả lại cho ông N phần đất c diện tích 91m2, thuộc thửa số 17, t bản đồ 23, tọa lạc tại x 1, huyện H, tỉnh Đồng Tháp do hộ ông T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và phần đất này do hộ ông Lương Văn T đứng tên nên ông thống nhất trả cho hộ ông T 100.000.000 đồng.
6. Về chi phí tố tụng khác: Ông Lương Văn T phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản với tổng số tiền 2.071.000đ, ông Lương Văn T đ nộp và đ chi xong.
7. Về án phí:
- Nguyên đơn Lương Văn T chịu 6.542.500đ án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu bị đơn giao lại căn nhà không đư c Tòa án chấp nhận nhưng ông Lương Văn T là ngư i cao tuổi đư c miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Nguyên đơn Lương Văn T và các ngư i c quyền l i, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị H, Lương Thị Mỹ H, Nguyễn Hữu Kh c ng chịu 1.300.000đ án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu phản tố của bị đơn đư c Tòa án chấp nhận nhưng ông Lương Văn T là ngư i cao tuổi đư c miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm nên các đương sự khác gồm Nguyễn Thị H, Lương Thị Mỹ H, Nguyễn Hữu Kh c ng chịu 1.300.000đ án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu phản tố của bị đơn đư c Tòa án chấp nhận .
- Bị đơn Nguyễn Văn N phải chịu 2.700.000đ án phí dân sự sơ thẩm đối với một phần yêu cầu phản tố về việc yêu cầu ông Lương Văn T, bà Nguyễn Thị H, chị Lương Thị Mỹ H và anh Nguyễn Hữu Kh liên đới trả lại số tài sản đ lấy của ông N tổng trị giá 80.000.000đ không đư c Tòa án chấp nhận.
- Bị đơn Nguyễn Văn N phải chịu 5.000.000đ án phí đối với phần yêu cầu phản tố về việc yêu cầu hộ ông Lương Văn T giao trả lại cho ông N phần đất c diện tích 91m2, thuộc thửa số 17, t bản đồ 23, tọa lạc tại x Thư ng Phước 1, huyện H, tỉnh Đồng Tháp do hộ ông T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đư c Tòa án chấp nhận.
Ngoài ra bản án còn tuyên về quyền kháng cáo và thi hành án.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
Ngày 02/11/2022, ông Lương Văn T kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, ông T yêu cầu sửa bản án sơ thẩm số: 67/2022/DS-ST ngày 18 tháng 10 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Đồng Tháp theo hướng xác định căn nhà gắn liền với đất là của ông T xây dựng. Ngày 07/11/2022, ông T c đơn xin rút yêu cầu kháng cáo, đồng ý bản án sơ thẩm nêu trên.
Ngày 31/10/2022, ông Nguyễn Văn N kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm số 67/2022/DS–ST, ngày 18/10/2022 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Đồng Tháp. Ông N yêu cầu công nhận quyền sử dụng phần đất chiều ngang 05m, chiều dài 18,2m, diện tích 91m2, thửa đất số 17, t bản đồ số 23 cho ông N. Ông N đư c quyền sở hữu căn nhà cấp 4, chiều ngang 05m, chiều dài 12m, diện tích 60m2 gắn liền phần đất nêu trên, tọa lạc tại x Thư ng Phước 1, huyện H, tỉnh Đồng Tháp. Ông Nguyễn Văn N tự nguyện trả cho ông T giá trị quyền sử dụng đất số tiền 100.000.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Ông Lương Văn T trình bày: Ông T giữ nguyên đơn yêu cầu rút kháng cáo ngày 07/11/2022 và đồng ý bản án sơ thẩm.
Ông Nguyễn Văn N trình bày: Ông không đồng ý bản án sơ thẩm. Yêu cầu Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của ông. Ông N đồng ý trả giá trị quyền sử dụng đất cho ông T là 150.000.000 đồng
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án đảm bảo chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa bản án sơ thẩm chấp nhận tự nguyện của bị đơn trả giá trị đất cho ông T là 150.000.000 đồng, ông N đư c tiếp tục sử dụng nhà, đất tranh chấp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ c trong hồ sơ, đư c kiểm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, l i phát biểu của kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của ông Lương Văn T, ông Nguyễn Văn N nộp đúng hạn luật định nên kháng cáo của các ông đư c Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Xét kháng cáo của ông T yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, xét xử theo hướng xác định căn nhà là của ông T xây cất.
Xét thấy ngày 07/11/2022, ông T c đơn rút kháng cáo và tại phiên tòa ông T vẫn giữ nguyên việc rút đơn kháng cáo, việc rút kháng cáo của ông T là hoàn toàn tự nguyện. Do đ căn cứ khoản 5 Điều 308 và Điều 312 Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của ông T.
Xét kháng cáo của ông Nguyễn Văn N:
Đối với phần đất tranh chấp: Ông N yêu cầu ông T trả cho ông diện tích 91m2, thuộc thửa số 17, t bản đồ số 23, đất ở nông thôn, tọa lạc tại x Thư ng Phước 1, huyện H do ông T đứng tên Giấy CNQSD đất số CH04761 ngày 08/11/2016. Ông N cho rằng ông c quen biết với chị L (con của ông T) và muốn sống chung lâu dài nên ông N c đưa tiền cho chị L mua đất để cất nhà ở do đ đất này là của ông N mua chứ không phải của ông T mua nên yêu cầu ông T trả đất. Ông T không thừa nhận l i trình bày của ông N, tiền chuyển như ng đất là của ông T, ông T là ngư i trực tiếp thỏa thuận và thực hiện thủ tục chuyển như ng đất với ông Dũng, việc ông N đư c ở trên đất này là do ông N quen và sống chung với nhau như v chồng với con gái ông (chị L). Hội đồng xét xử xét thấy phần đất tranh chấp này c nguồn gốc của hộ ông Đỗ Minh Dũng chuyển như ng cho hộ ông Lương Văn T theo h p đồng chuyển như ng đất đư c Ủy ban nhân dân xã 1 chứng thực ngày 14/10/2016, ông T đư c Ủy ban nhân dân huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 08/11/2016. Theo biên bản về việc xác minh thông tin liên quan đến đất tranh chấp ngày 23/8/2019 của Ủy ban nhân dân x 1 và Biên bản lấy l i khai ngày 14/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện H, ông Đỗ Minh D khai đất tranh chấp giữ ông T và ông N là của ông, năm 2016 ông D chuyển như ng đất cho ông T, ông T là ngư i trực tiếp thỏa thuận mua bán và trả tiền đủ cho ông D, cũng chính ông T là ngư i đi thực hiện thủ tục chuyển như ng. Tại Biên bản tiếp công dân ngày 20/9/2019 của Ủy ban nhân dân x Thư ng Phước 1, ông N cũng thừa nhận không biết việc ông T và ông D thỏa thuận chuyển như ng đất, không biết ông T đư c đứng tên giấy quyền sử dụng đất. Do đ l i khai của ông T ph h p với l i khai của ông Dũng là giao dịch chuyển như ng đất là do ông T là ngư i trực tiếp thực hiện. Ông N cho rằng tiền chuyển như ng đất là của ông N nhưng không đư c ông T thừa nhận và ông N cũng không c chứng cứ chứng minh cho l i trình bày của mình là c căn cứ. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông T không đồng ý nhận giá trị đất là 150.000.000đồng của ông N. Hội đồng xét xử xét thấy ông N đư c vào ở trong căn nhà trên đất ông T là do chị L (con ông T) đồng ý cho ở, nay do giữa ông N và chị L mâu thuẫn và chị L (theo ông T trình bày ông N đánh chị L nhiều lần c báo Công an x nhưng không c gì chứng minh) đ bỏ đi nên ông T yêu cầu ông N di d i đồ đạc trong nhà để giao trả đất của ông T và ông T đồng ý bồi hoàn giá trị xây dựng nhà lại cho ông N là c cơ sở. Ông T cũng đ đư c Ủy ban nhân dân huyện H cấp giấy phép xây dựng cho ông ngày 04/10/2017.
Do đ Tòa án sơ thẩm xét xử không chấp nhận yêu cầu đòi đất của ông N là c căn cứ.
Đối với căn nhà trên đất tranh chấp: Xét thấy tại phiên tòa sơ thẩm ngư i đại diện theo ủy quyển của nguyên đơn thừa nhận tiền xây dựng căn nhà là tiền của ông N, chị L và đồng ý trả giá trị nhà lại cho ông N, chị L giá trị theo giá mà Hội đồng định giá đ định là 130.850.000 đồng c ng các tài sản khác tổng cộng 172.350.000đồng nhưng ông T đồng ý trả cho ông N, chị L tổng cộng 176.000.000đồng là ph h p, do chị L không cung cấp văn bản ý kiến hay yêu cầu đồi với tài sản tranh chấp giữa ông T và ông N nên ông N đư c quản lý số tiền trên, khi nào chị L c yêu cầu tranh chấp sẽ đư c giải quyết bằng vụ kiện khác. Xét thấy căn nhà cất trên đất của ông T đứng tên Giấy CNQSD đất số CH04761 ngày 08/11/2016, ông T không đồng ý nhận giá trị đất của ông N hoàn trả, do đ Tòa án cấp sơ thẩm xử tuyên buộc ông T phải trả giá trị căn nhà lại cho ông N để ông T đư c sở hữu sử dụng là c căn cứ và ph h p pháp luật. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm ông N c trình bày trước khi xây dựng nhà năm 2016, ông c bỏ chi phí bơm 04 ghe cát với giá 21.000.000đồng để tôn nền cao như hiện nay và ông T tự nguyện bồi hoàn thêm 21.000.000 đồng cho ông N nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này. Tuyên ông T đồng ý giao cho ông N 21.000.000 đồng giá trị cát san lắp.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông N không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ nào khác chứng minh yêu cầu kháng cáo của ông là c căn cứ.
Từ những phân tích như trên Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm xét xử không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn N về việc yêu cầu hộ ông Lương Văn T giao trả lại cho ông N phần đất c diện tích 91m2, thuộc thửa số 17, t bản đồ 23 và buộc ông T phải trả giá trị căn nhà cho ông N là có căn cứ và ph h p chứng cứ trong hồ sơ cũng như thẩm vấn, tranh tụng tại phiên tòa. Do đ kháng cáo của bị đơn không c căn cứ để chấp nhận.
Do ông T đư c chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện nên ông T chịu 50% chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 1.035.500 đồng, ông N phải chịu 1.035.500 đồng. Do ông T đ nộp nên ông N phải trả lại ông T 1.035.500 đồng.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp là chưa ph h p nên không thể chấp nhận.
Về án phí phúc thẩm:
Do sửa một phần bản án sơ thẩm nên bị đơn không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 148, khoản 1 Điều 157, Điều 293 và khoản 1, 5 Điều 308, Điều 312 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Điều 166 Bộ luật dân sự;
Khoản 24 Điều 3, các Điều 166 và Điều 203 của Luật đất đai năm 2013;
Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của ông Lương Văn T.
Không chấp kháng cáo của ông Nguyễn Văn N.
Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 67/2022/DS-ST ngày 18 tháng 10 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Đồng Tháp.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lương Văn T.
Buộc ông Nguyễn Văn N di d i các tài sản nội thất độc lập với căn nhà và hàng rào sắt quanh căn nhà đi nơi khác để giao lại căn nhà 60m2 gắn liền diện tích đất 91m2 do ông Lương Văn T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lương Văn T quản lý sử dụng.
2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn N di d i tòan bộ tài sản trong nhà trả lại căn nhà cấp 4, chiều ngang 05m, chiều dài 12m, diện tích căn nhà 60m2 vì căn nhà này do ông Nguyễn Văn N và chị Lương Thị L đầu tư chi phí xây dựng, ông Lương Văn T không cung cấp chi phí xây dựng căn nhà.
3. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn N. Buộc ông Lương Văn T giao giá trị các m n đồ của ông N do ông T quản lý với số tiền 26.000.000đ (Hai mươi sáu triệu đồng).
Buộc ông Lương Văn T c nghĩa vụ giao giá trị căn nhà, giá trị phần nhà sau, giá các m n đồ của ông N do ông T quản lý, ông T tự nguyện giao ông N 21.000.000 đồng tiền san lắp cát. Tổng cộng ông Lương Văn T trả lại giá trị cho ông Nguyễn Văn N với số tiền 197.000.000 (Một trăm chín mươi bảy triệu) đồng.
4. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn N về việc yêu cầu hộ ông Lương Văn T giao trả lại cho ông N phần đất c diện tích 91m2, thuộc thửa số 17, t bản đồ 23, tọa lạc tại x Thư ng Phước 1, huyện H, tỉnh Đồng Tháp do hộ ông T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và phần đất này do hộ ông Lương Văn T đứng tên nên ông thống nhất trả cho hộ ông T 100.000.000 đồng.
5. Về chi phí tố tụng khác: Ông Lương Văn T, ông Nguyễn Văn N mỗi ngư i phải chịu 50% chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản với tổng số tiền 2.071.000 đồng, ông T đ nộp và đ chi xong. Nên ông Nguyễn Văn N phải trả lại cho ông T 1.035.500 đồng.
6. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Nguyên đơn Lương Văn T chịu 6.542.500đ án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu bị đơn giao lại căn nhà không đư c Tòa án chấp nhận nhưng ông Lương Văn T là ngư i cao tuổi đư c miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Nguyên đơn Lương Văn T và các ngư i c quyền l i, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị H, Lương Thị Mỹ H, Nguyễn Hữu Kh c ng chịu 1.300.000đ án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu phản tố của bị đơn đư c Tòa án chấp nhận nhưng ông Lương Văn T là ngư i cao tuổi đư c miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm nên các đương sự khác gồm Nguyễn Thị H, Lương Thị Mỹ H, Nguyễn Hữu Khc ng chịu 1.300.000đ án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu phản tố của bị đơn đư c Tòa án chấp nhận.
- Bị đơn Nguyễn Văn N phải chịu 2.700.000đ án phí dân sự sơ thẩm đối với một phần yêu cầu phản tố về việc yêu cầu ông Lương Văn T, bà Nguyễn Thị H, chị Lương Thị Mỹ Hvà anh Nguyễn Hữu Kh liên đới trả lại số tài sản đ lấy của ông N tổng trị giá 80.000.000đ không đư c Tòa án chấp nhận nhưng đư c khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 2.000.000đồng đ nộp theo biên lai số 0003042 ngày 05/6/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H. Ông N còn phải nộp tiếp số tiền 700.000 (Bảy trăm nghìn) đồng.
- Bị đơn Nguyễn Văn N phải chịu 5.000.000đ án phí đối với phần yêu cầu phản tố về việc yêu cầu hộ ông Lương Văn T giao trả lại cho ông N phần đất c diện tích 91m2, thuộc thửa số 17, t bản đồ 23, tọa lạc tại x Thư ng Phước 1, huyện H, tỉnh Đồng Tháp do hộ ông T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đư c Tòa án chấp nhận nhưng đư c khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 2.500.000đồng đ nộp theo biên lai số 0003989 ngày 07/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H. Ông N còn phải nộp tiếp số tiền 2.500.000 (Hai triệu năm trăm nghìn) đồng.
7. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Lương Văn T không phải chịu án phí phúc thẩm.
Ông Nguyễn Văn N không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Ông N đư c nhận lại tiền tạm ứng án phí 300.000đồng theo biên lai số 0004116 ngày 03/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không c kháng cáo, kháng nghị c hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết th i hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trư ng h p bản án, quyết định đư c thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì ngư i đư c thi hành án dân sự, ngư i phải thi hành án dân sự c quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Th i hiệu thi hành án đư c thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm c hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thành Tôn – Nguyễn Thị Thúy Hằng
Trần Trung Thành
| Nơi nhận: - Phòng KTNV THA Tòa án Tỉnh, - VKSND Tỉnh; - Tòa án ND huyện H; - Chi cục THADS huyện H; - Đương sự; - Lưu: VT, HSVA, TDS. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Trung Thành |