- Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Quốc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 131/2022/HS-ST Ngày: 25-11-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Viển.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Liệu.
2. Ông Hoàng Văn Đông.
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Nguyễn Thành Trung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Thọ - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 147/2022/TLST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 162/2022/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2022, đối với bị cáo:
Lê Quốc T - sinh năm 2000, tại Đồng Nai.
Nơi cư trú: Ấp B, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Quốc C - sinh năm 1980 và bà Trần Thị Bích P - sinh năm 1982; vợ, con chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
Về nhân thân: Ngày 10/10/2019, bị Công an huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai xử phạt 2.000.000 đồng về hành vi “ Xâm hại đến sức khỏe người khác”.
Bị bắt tạm giữ, giam ngày 19/7/2022, đang tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện Định cho đến nay “có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Quốc T là đối tượng thường xuyên sử dụng ma túy đá.
Do cần ma túy để sử dụng nên vào khoảng 18 giờ ngày 18/7/2022, T đi bộ đến khu vực chùa Trúc Lâm thuộc Bến Nôm 1, xã Phú Cường, huyện Đ, tìm gặp một người tên Phúc để mua ma túy. Tại đây, sau khi gặp Phúc, T hỏi mua được 01 bịch ma túy đá với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T mang về khu vực chòi hoang thuộc ấp Bến Nôm 2, xã Phú Cường, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai lấy ra một phần cho vào bộ dụng cụ có sẵn trước đó để sử dụng. T đã sử dụng được 02 lần, phần ma túy còn lại T để vào trong 01 gói nylon cất giấu trong túi quần bên phải phía trước của T nhằm mục đích để dành sử dụng dần. Sau khi sử dụng xong, T nằm ngủ tại chòi hoang, đến khoảng 09 giờ 00 phút cùng 19/7/2022, bị lực lượng Công an xã Phú Cường kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ cùng tang vật:
- 01 bịch nylon được hàn kín, bên trong chứa tinh thể màu trắng được thu giữ trong túi quần phía trước bên phải của Lê Quốc T, T khai nhận tinh thể màu trắng là ma túy đá của T tàng trữ để sử dụng cho bản thân được niêm phong có chữ ký ghi họ tên Lê Quốc T, người chứng kiến Nguyễn Trọng Nghĩa và dấu mộc đỏ của Công an xã Phú Cường và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá.
Căn cứ Bản kết luận số 1537/KL-KTHS ngày 26/7/2022, của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đồng Nai xác định: Mẫu niêm phong được thu giữ gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng là 0,4205 gam, loại Methamphetamine.
Tại Cơ quan điều tra, Lê Quốc T đã thừa nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bản thân.
* Vật chứng vụ án:
- 01 gói niêm phong mẫu vật ma túy vụ số 1537/KL-KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đồng Nai sau giám định.
- 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá.
Tại Cáo trạng số 106/CT-VKS ngày 07/11/2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố bị cáo Lê Quốc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lê Quốc T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong mẫu vật ma túy vụ số 1537/KL-KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đồng Nai sau giám định và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Căn cứ để kết tội đối với bị cáo: Căn cứ vào bản tự khai, biên bản ghi lời khai, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản hỏi cung và sự thừa nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ, thể hiện: Vào khoảng 09 giờ 00 phút ngày 19/7/2022, tại khu vực chòi hoang thuộc ấp Bến Nôm 2, xã Phú Cường, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai Lê Quốc T đã có hành vi Tàng trữ trái phép 0,4205 gam, loại: Methamphetamine. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng số 106/CT-VKSĐQ ngày 07 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố là đúng người, đúng tội.
Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy, xâm phạm an ninh, trật tự trong xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an, an toàn xã hội, gây ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe, nhân cách con người. Vì vậy, việc đưa bị cáo ra xét xử với mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi của bị cáo gây ra, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo có ý thức chấp hành pháp luật và răn đe phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Quốc T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải thuộc trường hợp quy định s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo là lao động chính trong gia đình, trình độ học vấn thấp là những tình tiết quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về xử lý vật chứng:
- 01 gói niêm phong mẫu vật ma túy vụ số 1537/KL-KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đồng Nai sau giám định là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá là công cụ phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.
Về các vấn đề khác: Đối với đối tượng có tên thường gọi là Phúc đã bán ma túy cho T, hiện chưa rõ nhân thân lai lịch, địa chỉ. Cơ quan Cảnh sát điều tra đang tiếp tục xác minh khi nào làm việc được sẽ xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo Lê Quốc T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Xét ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều khoản, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, xử lý vật chứng và các vấn đề khác trong vụ án là phù hợp, có căn cứ chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
1. Tuyên bố bị cáo Lê Quốc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Lê Quốc T 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/7/2022.
2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy:
- 01 gói niêm phong mẫu vật ma túy vụ số 1537/KL-KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đồng Nai sau giám định.
- 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá.
(Đặc điểm, tình trạng vật chứng tuyên tiêu hủy theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08 tháng 11 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ).
3. Về án phí: Bị cáo Lê Quốc T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - Công an H.Đ; - VKSND H.Đ ; - CCTHADS H.Đ; - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai; - UBND cấp xã; - Những người tham gia tố tụng; - Hồ sơ thi hành án; - Lưu AV, HS; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Viển |