- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tô Hoài T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 131/2022/HS-ST Ngày: 08-12-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B
TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Quốc Tuấn.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phạm Thị Bích Lệ
2. Bà Nguyễn Thị Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Hoàng Bảo Vân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tham gia phiên tòa: Ông Tằn Đình Thống - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 98/2022/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/2022/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:
Tô Hoài T (Tên gọi khác: Ken), sinh ngày 02/11/1996.
Nơi sinh: Tỉnh Lâm Đồng
Nơi cư trú: Số nhà 11/12, thôn Ngọc Sơn 3, xã Phú Sơn, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
Chỗ ở hiện nay: Khu phố X, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bình Thuận.
Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tô Mạnh T và Võ Thị Q; Chồng (Đã ly hôn); Con: 01 con; tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Tại Bản án số 68/2022/HS-ST ngày 10/6/2022 của Tòa án nhân dân huyện B xử phạt Tô Hoài T 15 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đang chấp hành án tại Trại giam Z30D - Bộ Công an; có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng: Trần Đạt P, sinh năm 1997 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Khu phố H, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bình Thuận.
- Người chứng kiến: Trần Hồng T, sinh năm 1953(Vắng mặt)
Địa chỉ: Khu phố X, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 21 giờ ngày 09/10/2021, Công an thị trấn C tổ chức tiến hành kiểm tra nơi cư trú để đảm bảo công tác phòng, chống dịch bệnh Covid-19 tại 01 Căn nhà ở đường Hà Huy Tập, khu phố X, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bình Thuận của bà Hồ Thị Thu L, sinh năm 1988 (đứng tên đăng ký chủ sở hữu) cho Tô Hoài T, sinh năm 1996, ở thôn Ngọc Sơn 3, xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng và Huỳnh Thị H, sinh năm 1992, ở khu phố Phú Thọ 01, thị trấn H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên thuê ở, thì phát hiện Tô Hoài T đang cất giấu 01 bộ dụng cụ ma túy đá và 01 bịch nhựa được hàn kín, kích thước (3,2 x 0,9)cm, bên trong có chứa tinh thể màu trắng, chưa xác định khối lượng trong một ba lô màu đỏ để trong phòng. T và H đều khai đó là chất ma túy đá nên lực lượng Công an thị trấn C lập biên bản sự việc, tạm giữ các tang vật, gồm: 01 bịch nhựa kích thước (3,2 x 0,9)cm, bên trong có chứa tinh thể màu trắng, chưa xác định khối lượng, 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá (đã niêm phong), 01 điện thoại di động màu xanh gắn sim số 03370008630 (của Tô Hoài T), 01 ba lô màu đỏ hiệu Samsonite và 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu hồng, gắn sim số 0359378697 (của Huỳnh Thị H). Công an thị trấn C tiến hành xác minh sơ bộ ban đầu, xét thấy có dấu hiệu tội phạm nên chuyển hồ sơ vụ việc trên đến Cơ quan CSĐT Công an huyện B để giải quyết theo thẩm quyền.
Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã ra Quyết định trưng cầu giám định chất ma túy. Tại bản kết luận giám định số 1249/KLGĐ-PC09 ngày 30/10/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận kết luận: Phong bì số 01 được niêm phong còn nguyên vẹn; trong phong bì 01 bịch nhựa được hàn kín, bên trong đều chứa chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M).
-Mẫu M gửi giám định có khối lượng 0,1120 gam; là Methamphetamine.
Hoàn lại mẫu vật gửi đến giám định: Bịch như đã nêu tại mục II và 0,0848 gam mẫu M còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì số 1249. (Bl số: 17)
Quá trình làm việc, Tô Hoài T và Huỳnh Thị H khai nhận: T và H đều là người nghiện ma túy đá. Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 09/10/2021, T và H đang ở căn nhà đường Hà Huy Tập thuộc khu phố X, thị trấn C, huyện B do T và H thuê ở, thì Hương nảy sinh ý định mua ma túy đá về để cho H và T cùng sử dụng nên Hương lấy điện thoại gọi cho Trần Đạt P (Tư Les), sinh năm 1997, ở Khu phố H, thị trấn C, huyện B hỏi mua 01 tép ma túy đá với số tiền 200.000 đồng và P đồng ý. Đến khoảng 20 giờ 55 phút cùng ngày 09/10/2021, P chạy xe mô tô đến nhà của H và T thuê ở và cầm 01 bịch nhựa là ma túy đá đưa cho H và H lấy tiền 200.000 đồng đưa cho P, rồi P chạy xe mô tô bỏ đi. H cầm 01 bịch nhựa ma túy đá vừa mới mua đưa cho T cầm và nói với T lấy dụng cụ sử dụng ma túy đá ra bỏ ma túy vào để H và T cùng sử dụng. Khi T lấy bình sử dụng ma túy đá chuẩn bị bỏ ma túy vào để sử dụng, nhưng chưa kịp sử dụng thì nghe lực lượng Công an đến kiểm tra nên T nhanh chóng cầm 01 bịch nhựa ma túy đá và 01 bình dụng cụ sử dung ma túy đá cất giấu vào ba lô màu đỏ hiệu Samsonite của H để ở trong phòng thì lực lượng công an đến kiểm tra, phát hiện thu giữ các tang vật nêu trên.
Lời khai nhận của Tô Hoài T và Huỳnh Thị H phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai Trần Đạt P, người chứng kiến, biên bản ghi nhận sự việc có thu giữ tang vật chứng và kết quả giám định chất ma túy nên đủ căn cứ xác định: Tô Hoài T và Huỳnh Thị H có cất giấu ma túy đá khối lượng 0,1120 gam; là Methamphetamine để sử dụng thì bị phát hiện thu giữ.
Để sớm hoàn thành việc truy tố và đưa vụ án ra xét xử, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B quyết định tách vụ án để kết thúc điều tra và đề nghị truy tố Tô Hoài T trước. Đối với Huỳnh Thị H, quá trình điều tra đã bỏ trốn, đi đâu, không rõ, Cơ quan CSĐT đã khởi tố bị can và ra Quyết định truy nã đối với Huỳnh Thị H nhưng đến nay chưa bắt được H.
Đối với Trần Đạt P đã khởi tố, truy tố và xét xử trong một vụ án mua bán trái phép chất ma túy khác nên trong vụ án này không xem xét đề nghị xử lý.
Về tang, vật chứng của vụ án: 01 Bịch như đã nêu tại mục II và 0,0848 gam mẫu M còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì số 1249, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, 01 điện thoại di động màu xanh gắn sim số 03370008630 (của Tô Hoài T), 01 ba lô màu đỏ hiệu Samsonite và 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu hồng, gắn sim số 0359378697 (của Huỳnh Thị H). Các tang vật, chứng nêu trên sẽ chuyển vào kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện B để xem xét, xử lý theo quy định pháp luật.
Tại bản cáo trạng số 98/CT-VKS.HBB ngày 04/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B đã truy tố bị cáo Tô Hoài T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 ( Đã được sửa đổi bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện B giữ nguyên quyết định truy tố theo tội danh và điều luật đã viện dẫn tại Bản cáo trạng nêu trên. Sau khi luận tội, Kiểm sát viên đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: điểm c, khoản 1 điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi bổ sung năm 2017)
Xử phạt: Bị cáo Tô Hoài T từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Tại Bản án số 68/2022/HS-ST ngày 10/6/2022 của Tòa án nhân dân huyện B xử phạt Tô Hoài T 15 tháng tù, về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Do đó, cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án để buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả 02 bản án. Hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành từ 30 tháng đến 33 tháng tù.
Áp dụng: Điểm a, c, khoản 1, điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 ( Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điểm a, c; khoản 2, điểm c khoản 3 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu, tiêu hủy: 01 bịch như đã nêu tại mục II và 0,0848 gam mẫu M còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì số 1249, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, 01 ba lô màu đỏ hiệu Samsonite.
Tịch thu, sung quỹ: 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu hồng, gắn sim số 0359378697 của Huỳnh Thị H.
Trả lại cho Tô Hoài T 01 điện thoại di động màu xanh gắn sim số 0337008630.
Bị cáo Tô Hoài T không tranh luận gì, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Hội đồng xét xử, xét thấy đề nghị đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên có cơ sở để xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, chuẩn bị xét xử và tại phiên toà hôm nay, bị cáo Tô Hoài T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung:
Trong giai đoạn điều tra và tại phiên toà hôm nay, bị cáo Tô Hoài T đã thừa nhận: Vào khoảng 21 giờ ngày 09/10/2021, tại khu phố X, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bình Thuận. Bị cáo Tô Hoài T cất giấu chất ma túy có khối lượng 0,1120 gam, là Methamphetamine để sử dụng thì bị phát hiện thu giữ để xử lý.
Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người làm chứng, người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án.Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Tô Hoài T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 ( Đã được sửa đổi bổ sung năm 2017). Trong vụ án này, bị cáo Tô Hoài T đã có hành vi tàng trữ trái phép ma túy để sử dụng. Số vật chứng thu giữ được trong vụ án, bị cáo Tô Hoài T khai nhận là do bị cáo đem về tàng trữ để sử dụng chứ không nhằm mục đích nào khác.Với hành vi nêu trên và hậu quả để lại,cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện B đã truy tố bị cáo Tô Hoài T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) là có cơ sở và đúng pháp luật. Bị cáo Tô Hoài T hoàn toàn nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là trái với quy định của pháp luật. Thế nhưng để có ma túy sử dụng, bị cáo Tô Hoài T không những không chấp hành mà còn vi phạm pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo không những đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về ma túy mà còn xâm phạm đến trật tự trị an tại địa phương, xâm hại đến sức khoẻ, sự tồn vong của con người và là nguyên nhân của một số tội phạm khác. Do vậy cần phải xử lý nghiêm minh tương xứng với tính chất mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.
Tại Bản án số 68/2022/HS-ST ngày 10/6/2022 của Tòa án nhân dân huyện B xử phạt Tô Hoài T 15 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 08/03/2022.
Do đó, cần áp dụng khoản 1 điều 56 Bộ luật hình sự về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án để buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả 02 bản án
[3] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tuy nhiên, xét sau khi phạm tội, bị cáo Tô Hoài T đã thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử sẽ quan tâm để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[4]Về vật chứng vụ án:
Xét 0,0848 gam mẫu M còn lại sau giám định và 01 bịch nhựa màu trắng được hàn kín, có kích thước (3,2x0,9)cm được niêm phong trong phong bì số 1249 có chữ ký của giám định viên Đinh Trung Hiếu và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, 01 ba lô màu đỏ hiệu Samsonite, đây là vật chứng của vụ án cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng cần phải tịch thu để tiêu hủy
Xét 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu hồng, gắn sim số 0359378697 của Huỳnh Thị H là phương tiện dùng vào việc phạm tội cần phải tịch thu để sung công quỹ nhà nước.
Xét 01 điện thoại di động màu xanh gắn sim số 0337008630 của Tô Hoài T không liên quan đến vụ án nên trả lại cho Tô Hoài T
[5] Về hình phạt bổ sung:
Bị cáo Tô Hoài T không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về án phí: Bị cáo Tô Hoài T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7]Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: Khoản 1, Điều 268; Khoản 1, Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tuyên bố: Bị cáo Tô Hoài T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249 ; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015 ( Đã được sửa đổi bổ sung năm 2017)
Xử phạt: Bị cáo Tô Hoài T 15 (Mười lăm) tháng tù.
Tổng hợp hình phạt 15 (Mười lăm) tháng tù của bản án hình sự sơ thẩm số 68/2022/HS-ST, ngày 10/6/2022 của Tòa án nhân dân huyện B; buộc bị cáo Tô Hoài T phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08 tháng 3 năm 2022.
2. Về xử lý tang, vật chứng: Áp dụng điểm a, c, khoản 1, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu, tiêu hủy: 0,0848 gam mẫu M còn lại sau giám định và 01 bịch nhựa màu trắng được hàn kín, có kích thước (3,2x0,9)cm được niêm phong trong phong bì số 1249 có chữ ký của giám định viên Đinh Trung Hiếu và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, 01 ba lô màu đỏ hiệu Samsonite.
Tịch thu, sung quỹ: 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu hồng, gắn sim số 0359378697 của Huỳnh Thị H.
Trả lại cho Tô Hoài T 01 điện thoại di động màu xanh gắn sim số 0337008630.
(Số vật chứng trên hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự huyện B theo biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 03/11/2022)
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2, Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a; Khoản 1; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Buộc bị cáo Tô Hoài T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (08/12/2022).
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Thuận - VKSND huyện B; - Công an huyện B; - Chi cục THADS huyện B; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ vụ án, V.P | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA LÂM QUỐC TUẤN |