- Tranh chấp gì? án hình sự — "K. B Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo K’ Brim; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 175 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 131/2022/HS-PT Ngày: 14-11-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Duy Hoài
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Hữu Hồng
Ông Đặng Ngọc Bình
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Quốc Huy; Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Khanh; Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2022, tại Hội trường Ủy ban nhân dân thị trấn Lộc Thắng, huyện Bảo Lâm xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 156/2022/TLPT-HS, ngày 13-10-2022 đối với bị cáo K’ B do kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 71/2022/HS-ST ngày 06/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.
Bị cáo kháng cáo:
Họ và tên: K’B, sinh năm 1979 tại tỉnh Lâm Đồng; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Thôn 5B, xã ĐTH, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm vườn; trình độ văn hoá: Lớp 02/12; dân tộc: K’Ho; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông K’D và bà Ka Nh; vợ: Ka H, con: Có 05 người con, lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 04/12/2021 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bảo Lâm. Có mặt.
Trong vụ án này, còn có bị hại Hoàng Anh T không kháng cáo, vụ án không bị kháng nghị nên Toà án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 26/01/2021, K’B đến nhà ông Hoàng Anh T thuê 01 xe ôtô nhãn hiệu Kia Morning, biển số kiểm soát 51G-986.94, với giá 500.000 đồng/ngày. Thời gian thuê xe ghi trên hợp đồng từ ngày 26/01/2021 đến ngày 31/01/2021, K’B đưa trước 2.500.000 đồng tiền thuê xe. Hết thời hạn, K’B đến gặp ông T để gia hạn thời gian thuê xe và được ông T đồng ý, không lập hợp đồng mới, vài ngày K’B trả tiền thuê xe cho ông T một lần (hình thức đưa tiền mặt và chuyển khoản). Do cần tiền sử dụng cá nhân, K’B mang xe biển số kiểm soát 51G-986.94 cầm cố cho ông Nguyễn Văn H với số tiền 60.000.000 đồng. Sau đó, lấy lý do nhóm làm ăn của K’B đông người, cần phương tiện để đi lại, K’B tiếp tục đến gặp ông T để thuê thêm xe ôtô hiệu Hyundai Grand i10, biển số kiểm soát 51F-286.80 với giá 500.000 đồng/ngày và trả tiền thuê xe biển số 51G-986.94 của những ngày trước đó. Ông T lập một hợp đồng cho thuê xe mới gộp chung cả hai xe, thời gian thuê đến 15/6/2021 với giá 1.000.000 đồng/2xe/ngày. Sau khoảng 01 tuần, K’B mang xe biển số kiểm soát 51F-286.80 đến đổi xe biển số kiểm soát 51G-986.94 cho Hiến và cầm cố thêm số tiền 60.000.000 đồng với lý do đưa xe đi sửa chữa và sử dụng xe này để đi lại.
Ngày 11/3/2021, K’B mang xe biển số kiểm soát 51G-986.94 đến gặp Hiến để đổi xe biển số kiểm soát 51F-286.80 và cầm cố thêm tiền, hai bên lập hợp đồng cầm cố mới với tổng số tiền của 03 lần là 230.000.000 đồng. K’B lấy xe Hyundai Grand i10, biển số kiểm soát 51F-286.80 để sử dụng và tiếp tục để xe Kia Morning, biển số kiểm soát 51G-986.94 cầm cố cho ông Hiến. Đến ngày 10/5/2021, do đến thời hạn phải đăng kiểm xe, ông T gọi điện yêu cầu K’B đưa xe 51G-986.94 đến Chi nhánh Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới Lâm Đồng tại thành phố Bảo Lộc để thực hiện việc đăng kiểm. Lúc này, ông Hiến điều khiển xe 51G-986.94 đến Trung tâm đăng kiểm, được K’B giới thiệu là bạn làm ăn chung nên ông T không nghi ngờ gì. Sau khi thực hiện xong các thủ tục đăng kiểm xe biển số 51G-986.94, ông T đi về và để lại xe cho ông Hiến điều khiển. Sau đó, K’B tiếp tục để xe Kia Morning, biển số kiểm soát 51G-986.94 cầm cố cho ông Hiến.
Đến thời hạn ghi trong hợp đồng (ngày 15/6/2021), ông T gọi điện thoại yêu cầu K’B mang xe về trả và trả tiền thuê xe, K’B hứa hẹn nhiều lần nhưng không thực hiện. Ông T tìm gặp ông Hiến nói chuyện và được biết K’B đã cầm cố xe biển số 51G-986.94 cho ông Hiến. Lúc này, ông T mới biết K’B lợi dụng việc thuê xe ôtô để mang đi cầm cố. Ông T cho K’B thêm thời gian để chuộc xe mang về trả nhưng K’B không thực hiện mặc dù hứa hẹn nhiều lần. Ngày 04/8/2021, ông T làm đơn tố cáo K’B gửi Công an huyện Bảo Lâm. Đối với xe Hyundai Grand i10, biển số kiểm soát 51F-286.80, K’B sử dụng và sau đó đã mang trả cho ông Hoàng Anh T.
Tại bản cáo trạng số 44/CT-VKS-BL ngày 31/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng đã truy tố bị cáo K’B về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 175 của Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 71/2022/HS-ST ngày 06/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm đã xử;
Tuyên bố bị cáo K’B phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 175; Điều 38; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo K’B 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 04/12/2021).
Ngoài ra, bản án còn tuyên án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 13/9/2022 bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không thắc mắc, khiếu nại nội dung bản án sơ thẩm, khai nhận hành vi như bản án sơ thẩm đã xét xử; đồng thời giữ nguyên nội dung kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Cơ quan tiến hành tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Đơn kháng cáo của bị cáo K’ Brim đúng về hình thức, nội dung, trong hạn luật định nên kháng cáo của bị cáo là hợp lệ, nên đủ cơ sở để Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[3] Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi như bản án sơ thẩm quy kết. Xét lời khai nhận tội của bị cáo thống nhất với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với tất cả các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Vào tháng 01/2021 đến tháng 3/2021, tại xã Lộc An, huyện Bảo Lâm bị cáo K’B có hành vi thuê xe ô tô hiệu Kia Morning, biển số kiểm soát 51G-986.94 của ông Hoàng Anh T để sử dụng đi lại, sau đó mang đi cầm cố cho ông Nguyễn Văn H với tổng số tiền 230.000.000 đồng tiêu xài cá nhân dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.
Tại Kết luận định giá tài sản số 111/KL-HĐĐGTS ngày 15/8/2021 của Hội đồng định giá tài sản Tố tụng hình sự huyện Bảo Lâm kết luận xe ô tô nhãn hiệu Kia Morning, biển số kiểm soát 51G-986.94 đăng ký lần đầu ngày 03/3/2016 có giá trị là 170.000.000 đồng.
Hành vi của bị cáo đã vi phạm pháp luật hình sự, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương.
Toà án nhân dân huyện Bảo Lâm đã tuyên bố bị cáo K’ Brim phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 175 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo K’ Brim thì thấy rằng; Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo mức án 04 năm tù là phù hợp, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo nhưng không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ nào mới, mức án cấp sơ thẩm đã tuyên tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đảm bảo công tác giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung. Do vậy, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo K’ Brim; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tuyên bố bị cáo K’B phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 175; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo K’B 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 04/12/2021).
2. Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo K’ Brim phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Lâm Đồng (01); - Vụ GĐKT I – TANDTC (01); - Phòng KTNV&THA (04); - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng (01); - TAND huyện Bảo Lâm (02); - VKSND huyện Bảo Lâm (01); - Cơ quan CSĐT CA huyện Bảo Lâm (01); - Cơ quan THAHS CA huyện Bảo Lâm (01); - Phòng PV 06 - Công an tỉnh Lâm Đồng (01); - Bị cáo (02); Nhà tạm giữ Bảo Lâm (01); - Hồ sơ THAHS (03); - Lưu hồ sơ; Án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Duy Hoài |