- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn T - C"
- Tòa quyết gì? 56, 81, 82, 83, 84 và Điều 131 của Luật Hôn nhân Gia đình năm 2014;
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 131/2022/HNGĐ-ST Ngày: 28-12-2022 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ - TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nam
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Hồng Nguyên
2. Ông Trịnh Ngọc Thành
Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Chuyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham
gia phiên tòa: Bà Trương Thị Liên - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 12 năm 2022, tại Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh
Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 486/2022/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2022, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1989
Nơi cư trú: Tổ 4, khu Vân Cơ, phường M, thành V, tỉnh P.
Bị đơn: Anh Nguyễn Thế C, sinh năm: 1980
Nơi cư trú: Ấp 4, xã T, huyện P, tỉnh N.
(Chị Th, anh C có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 14/6/2022, lời khai tại các bản tự khai trong
quá trình chuẩn bị xét xử nguyên đơn chị Nguyễn Thị Th trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Th và anh C tìm hiểu, yêu thương và tự nguyện
tiến đến hôn nhân năm 2012, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Thanh Ba, huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 48, ngày 01 tháng 10 năm 2012.
Đời sống hôn nhân của vợ chồng thường hay xảy ra mâu Thẫn. Nguyên
nhân là do bất đồng quan điểm sống và cách nuôi dạy con cái, tính cách không hợp nhau nên thường xảy ra cãi vã, xung đột. Từ năm 2019 cho đến nay chị và anh C đã không còn sống chung với nhau, vợ chồng không ai quan tâm đến ai, nay tình cảm vợ chồng không còn chị Th yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Thế C.
Về con chung: Vợ chồng có 02 (Hai) con chung là Nguyễn Thế A, sinh
ngày 12/7/2013 và Nguyễn Vũ T, sinh ngày 19/8/2017. Khi ly hôn, chị Th yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Thế A, đồng ý giao cháu T cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị Th khai báo vợ chồng không có nợ chung, nên không
yêu cầu Tòa án giải quyết.
Lời khai trong quá trình chuẩn bị xét xử, bị đơn anh Nguyễn Thế C trình
bày.
Về quan hệ hôn nhân: Anh C thừa nhận, vợ chồng kết hôn tự nguyện, có
đăng ký kết hôn năm 2012 và được Ủy ban nhân dân thị trấn Thanh Ba, huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ cấp giấy chứng nhận kết hôn theo luật định.
Đời sống hôn nhân của vợ chồng anh thường hay xảy ra mâu Thẫn, cãi vã,
xung đột, do bất đồng quan điểm sống và cách nuôi dạy con cái nên tình cảm vợ chồng dần phai nhạt. Hiện nay vợ chồng anh đã không còn sống chung với nhau, vợ chồng không còn tình cảm, không ai quan tâm đến ai. Chị Th yêu cầu ly hôn thì anh cũng đồng ý.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Thế A, sinh ngày
12/7/2013 và Nguyễn Vũ T, sinh ngày 19/8/2017. Khi ly hôn anh C yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T, đồng ý giao cháu Thế A cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Vợ chồng không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải
quyết.
Để chứng minh cho yêu cầu, ý kiến của mình, nguyên đơn đã nộp kèm
theo đơn khởi kiện những tài liệu chứng cứ sau: Căn cước công dân (bản sao); xác nhận thông tin vè nơi cư trú (bản sao); giấy chứng nhận kết hôn (bản sao); giấy khai sinh của các con chung (bản sao); lời khai của nguyên đơn tại bản tự khai; Đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp Tòa án đã tiến hành sao gửi hợp lệ cho bị đơn.
Để giải quyết vụ án, theo yêu cầu của nguyên đơn, Tòa án đã tiến hành Th
thập những tài liệu, chứng cứ sau: Lời khai bị đơn; căn cước công dân; Đơn nguyện vọng của cháu Nguyễn Thế A; biên bản xác minh về mâu Thẫn vợ chồng; đơn đề nghị xét xử vắng mặt của bị đơn.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến như sau:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký
phiên tòa và nguyên đơn đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Th ly hôn với
anh Nguyễn Thế C.
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thế A, sinh ngày 12/7/2013 cho chị Th
trực tiếp nuôi dưỡng, giáo cháu Nguyễn Vũ T, sinh ngày 19/8/2017 cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng, không bên nào cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, tài sản riêng; nợ chung: Các bên đương sự không yêu
cầu giải quyết, nên không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Th phải chịu án phí Hôn nhân và
gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào
kết quả tranh tụng tại phiên tòa:
Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị Th khởi kiện yêu cầu ly hôn với
anh Nguyễn Thế C, tranh chấp về nuôi con chung là Nguyễn Thế A, sinh ngày 12/7/2013; Nguyễn Vũ T, sinh ngày 19/8/2017. Vì vậy, quan hệ pháp luật cần giải quyết trong vụ án này được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Bị đơn anh Nguyễn Thế C có nơi cư trú tại: Ấp 4, xã Trà Cổ, huyện Tân
Phú, tỉnh Đồng Nai nên vụ án Thộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chị Th, bị đơn anh C vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn
đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Th, anh C được xác lập trên
cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Thanh Ba, huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ, do đó đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật ghi nhận và bảo vệ.
Đời sống hôn nhân của chị Th, anh C không được hạnh phúc mà hay
xảy ra mâu Thẫn. Nguyên nhân mâu Thẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung nên thường hay xảy ra cãi vã, xung đột. Từ năm 2019 đến nay, chị Th, anh C đã không còn sống chung với nhau, vợ chồng không ai quan tâm đến ai, không còn thực hiện quyền và nghĩa vụ chung của vợ chồng.
Lời khai của nguyên đơn về quá trình chung sống, nguyên nhân phát
sinh mâu Thẫn của vợ chồng được bị đơn thừa nhận, phù hợp với biên bản xác minh về mâu Thẫn vợ chồng.
Từ lời khai của nguyên đơn, bị đơn và các tài liệu chứng cứ Th thập
được nhận thấy chị Th, anh C trong quá trình sống chung đã không tôn trọng, thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình yêu cầu ly hôn của chị Th đối với anh C là có cơ sở chấp nhận.
Về con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Th, anh C
có 02 con chung là Nguyễn Thế A, sinh ngày 12/7/2013; Nguyễn Vũ T, sinh ngày 19/8/2017. Khi ly hôn chị Th có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Anh, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Cháu Nguyễn Thế A có đơn nguyện vọng được sống chung với chị Th. Chị Th đồng ý giao cháu T cho anh C nuôi dưỡng, anh C có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T. Do do đó yêu cầu của chị Th, anh C là phù hợp nên được chấp nhận, vì vậy giao cháu Anh cho chị Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; giao cháu T cho anh C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Các đương sự khai không có, không yêu cầu Tòa án
giải quyết, nên không xem xét; về nợ chung: Các đương sự khai không có, nên không xem xét.
Về án phí: Chị Th là nguyên đơn trong vụ án ly hôn, do đó chị Th phải
chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về đường lối giải quyết vụ
án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39;
khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 235 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 85, 91, 92, 93 Luật hôn nhân gia đình năm 2000; Các điều 19, 51,
56, 81, 82, 83, 84 và Điều 131 của Luật Hôn nhân Gia đình năm 2014;
- Điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Th về việc “Ly hôn,
tranh chấp về nuôi con chung” đối với anh Nguyễn Thế C.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Th được ly hôn anh Nguyễn
Thế C.
2. Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Thế A, sinh ngày 12/7/2013 cho
chị Th trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; giao cháu Nguyễn Vũ T, sinh ngày 19/8/2017 cho anh C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm thời không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con.
Chị Th, anh C có quyền qua lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai
được gây trở ngại. Vì lợi ích của con chung các bên đương sự được quyền xin thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung: Các đương sự khai không có, không yêu cầu Tòa án
giải quyết, nên không xem xét; về nợ chung: Không có, nên không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Th phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn
đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) chị Th đã nộp tạm ứng theo biên lai Th số AA/2020/ 0009488 ngày 15/7/2022 tại Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ chuyển thành án phí, chị Th đã nộp đủ.
Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa Thận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
5. Về quyền kháng cáo: Chị Th, anh C có quyền kháng cáo trong thời hạn
15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Tân Phú; - Chi cục THA huyện Tân Phú; - Các đương sự (để thi hành); - UBND thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ (để ghi vào sổ hộ tịch ĐK ngày 01/10/2012) - Lưu hồ sơ, án văn. CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Nam |